VỀ TRANG LỄ TRỌNG
(Dnl. 8, 2-3.14b-16a; 1Cr. 10, 16-17; Ga. 6, 51 -58)
1. Đức Giêsu hoá bánh ra nhiều
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
Tác giả Tin Mừng nói rõ, chúng ta ở vào thời kỳ "ít lâu trước lễ vượt qua, một
đại lễ của người Do Thái”(6,4). Tác giả đưa biến cố được sống thời Đức Giêsu
(bánh hoá nhiều, bài giảng ở Capharnaum) về với thời của Israel (Manna thời xuất
hành với sự hướng dẫn của Môsê) để các độc giả thấy rõ hơn tính thời sự trong
thời của Giáo Hội (sau khi Đức Giêsu phục sinh, trong việc chia sẻ Lời Chúa và
bánh của bí tích Thánh Thể). Vì lòng thương xót đám đông đã theo Ngài, Đức Giêsu
đã nuôi họ bằng "năm chiếc bánh mạch nha và hai con cá" (6,9), như thế Ngài cho
thấy rõ phần nào căn tính đích thực của Ngài. Bởi thế các chứng nhân đã không
lầm, họ đồng hoá Ngài với vị đại ngôn sứ, Đấng đã được ông Môsê loan báo trong
sách Đệ Nhị Luật (18,15): "Giữa các ngươi, trong số anh em các ngươi, Chúa là
Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như tôi”. Thật vậy, trước những dấu lạ
mà Đức Giêsu đã thực hiện, người ta nói “chính Ngài là vị đại ngôn sứ phải đến
trong thế gian”. Nhưng, thánh Gioan viết, hiểu lầm sứ mạng của Ngài, họ "toan
bắt ép Ngài làm vua của họ" (6,14-15). Vì thế để tránh họ, Đức Giêsu rút lui một
mình lên núi trước khi đi qua bờ bên kia cách kín đáo với các môn đệ của Ngài.
Chính "ở trong hội đường Capharnaum" (6.59) đám đông đi tìm và gặp Ngài, Đức
Giêsu giảng cho họ một bài về bánh ban sự sống", trong đó Ngài đào sâu ý nghĩa
của bánh, ý nghĩa đã hiện hữu trong dấu chỉ, và dạy họ rằng, đối với họ. Đấng đã
hoá bánh ra nhiều cũng chính là bánh của nhân loại. Câu 51 đến 58. đã được ghi
trong sách bài đọc năm A này, và đã làm thành đoạn cuối của bài giảng, không thể
tách rời khỏi các câu trên, với sự song song rất rõ ràng giữa phần đầu và phần
cuối của bài giảng tại Capharnaum.
Cũng lời mở đầu: “Ta là bánh sự sống" (câu 35) và "Ta là Bánh hằng sống” (câu
51). Cũng lời cuối về sự sống vĩnh cửu: “Ai tin Ta sẽ có sự sống đời đời" ( câu
58).
Cùng lời quảng diễn về những xì xầm (đối chiếu với những "xì xầm" trong sách
Xuất Hành, và những chống đối của người Do Thái) làm sao ông ta có thể nói: “Ta
từ trời xuống" (câu 42), và làm sao con người ấy lại có thể lấy thịt mình cho
chúng ta ăn" (câu 52).
Nhưng trong lúc phần đầu của bài giảng trình bày "bánh sự sống" trong Đức Kitô
với tư cách là Đấng mặc khải của Chúa Cha Lời Thiên Chúa từ trời xuống, thì phần
hai lại quy chiếu cách rõ nét về bí tích Thánh Thể.
ĐỨC GIÊSU BÁNH HẰNG SỐNG TỪ TRỜI XUỐNG.
Ở phần đầu của bài đọc của sách này, khi quảng diễn Đệ Nhị Luật 8,3 Đức Giêsu tự
giới thiệu mình trước hết như là "Bánh sự sống" cho những ai tiếp nhận sứ điệp
của ngài bánh hằng sống từ trời xuống, đó là mặc khải cuối cùng cho loài người.
Đức Giêsu đã mặc khải bằng lời nói và việc làm của Ngài, bằng mầu nhiệm trọn vẹn
của Ngài, bằng chính con người của Ngài vì Ngài là "Ngôi Lời trở thành xác phàm"
(Ga 1,14). Ngài có thể áp dụng cho chính mình những gì mà Cựu ước đã nói về Lời
của Thiên Chúa hay sự khôn ngoan thần linh, là của ăn duy nhất có thể làm dịu
cơn đói khát của con người: "Ta là bánh sự sống, ai đến với Ta, sẽ không bao giờ
đói nữa, ai tin Ta sẽ không hề khát bao giờ" (cf. Pro. 9,5,- Sir. 24,21).
Một giai đoạn mới đã vượt qua với phần hai của bài giảng.
Ở đây sự gợi lại cái chết của Đức Giêsu, như nguồn sống, được làm rõ nét hơn
"bánh mà Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, ban cho thế gian được sống. Và chữ "THỊT"
làm nhớ lại lời mở đầu của thánh Gioan 1,14: “Ngôi Lời đã hoá thành xác phàm. A.
Marchadour quảng diễn: chính Đấng nhập thể hiện diện. Nhưng ở đây lời lẽ thích
đáng được diễn đạt: cái chết của Đức Giêsu như nguồn sống cho nhân loại. "Ngôi
Lời trở thành xác phàm" (1,14). Thịt trở thành bánh (6,51). Giữa việc nhập thể,
cái chết trên thập giá và bí tích Thánh Thể có một sự liên tục mật thiết. (Phúc
âm thánh Gioan "Centurion", 1992, trang 108).
Và nếu, cho đến bây giờ cái tiếng chính là "TIN", “ĐẾN VỚI TÔI" thì bây giờ
chúng ta lại thấy những từ: "BAN", "ĂN và UỐNG". A. Marchadour viết tiếp: "Trong
phần cuối của bài giảng của Đức Giêsu, những từ về Thánh Thể (eucharistiques)
chiếm chỗ quan trọng với tính hiện thực mà người ta chỉ có thể hiểu vào thời đại
của Giáo Hội. Giữa các câu 53, 54-56, thay vì từ "ĂN" truyền thống, Gioan dùng
một từ có vẻ sống động hơn: "nhai, cắn" điều đó còn nhấn mạnh hơn đến sở hữu và
nghĩa nội tâm hoá cần thiết. Trong trường hợp này, phần bài giảng này có thể
chịu ảnh hưởng những cuộc tranh cãi trong cộng đồng Kitô giáo của Gioan trên
tính hiện thực của Thánh Thể (Phúc âm thánh Gioan "Centurion", p.109) Đức Giêsu
cũng là bánh từ trời xuống vì trong bí tích, cái mà Ngài ban làm của ăn chính là
"thịt" Ngài hiến dâng cho sự sống của thế gian, ăn thịt (động từ lặp lại 8 lần
trong một ít câu) và "uống" máu Ngài, là nhận lấy sự sống của Ngài, là thông
hiệp với mầu nhiệm chết và sống lại của Ngài: chúng ta ở vào thời "ít lâu trước
lễ Vượt qua, thịt của Đức Giêsu được ban để cho thế gian được sống" (câu 51).
Giờ Giuđa nộp Thầy mình đã gần đến, Gioan lưu ý (câu 64 và 70-71). Đến phiên
mình, nhờ Ngài với Ngài và trong Ngài, Ngài chấp nhận liều mình trở nên "tấm
bánh bẻ ra cho thế giới mới". (Đại hội Thánh Thể Lộ Đức, 1981).
BÀI ĐỌC THÊM:
1) Ngày nay cũng thế, khi thông hiệp với Đức Kitô trong đức tin, người Kitô hữu
ở trong Ngài và nhận được sự sống đời đời (A. March, "Dossier biblique số 41,
trang 13-14).
Khi giảng tại Capharnaum, Chúa Giêsu đã không thể nói rõ cách trực tiếp về Thánh
Thể, điều người ta không thể hiểu nổi trước bữa tiệc ly, trước cái chết và sự
sống lại của Ngài. Cụm từ "bánh sự sống" trước hết là một cách nói về Đức Giêsu
như Đấng mặc khải từ trời đến và lời Ngài là của ăn và của uống (Hãy đến mà ăn
bánh của Ta hãy uống rượu nho mà Ta đã dọn sẵn cho các con: Prov. 9,5). Tất cả
bài giảng trước hết gợi lên lòng tin vào Đức Giêsu Đấng mặc khải, nhưng việc
thực hiện Thánh Thể cũng lộ ra trong thuật ngữ Kitô giáo: "ăn, uống, có sự
sống". Tuy nhiên phần cuối thì trực tiếp chỉ về "Thánh Thể" chúng ta hãy quan
sát. Thật vậy, từ câu 51, Đức Giêsu gợi lên cái chết của Ngài như là nguồn sự
sống: bánh mà tôi sẽ ban cho, chính là thịt tôi để cho thế gian được sống. Từ
"thịt" làm nhớ đến lời mở đầu: Lời trở nên xác phàm (1,14). Chính việc nhập thể
(incarnation) được diễn tả ở đây, trong giai đoạn kết thúc: cái chết của Đức
Giêsu, Ngôi Lời trở nên thịt (xác phàm), thịt làm thành của ăn. Giữa việc nhập
thể, cái chết và Thánh Thể có một sự liên tục. Ngày nay Đức Giêsu vắng mặt trong
thân thể Người, sự mặc khải của Ngài vẫn còn đó và Thánh Thể là trọng tâm mà
loài người được mời gọi, cùng với cơ may cũng như rủi ro bị từ chối như vào thời
Đức Giêsu vậy: Lời này chói tai quá, ai mà nghe được! (6,60). Ở câu 53-56, thay
vì động từ "ăn", Gioan dùng một từ rất mạnh: "nhai, cắn". Có lẽ là để nhấn mạnh
đến tính hiên thực của Thánh Thể: Thật vậy, một số Kitô hữu, những người thuộc
phái ngộ đạo, từ chối sự trung gian thể chất của các bí tích để kết hiệp với Đức
Giêsu, cũng như họ từ chối không tin sự hiện hữu của nhân loại tỉnh trong Đức
Giêsu, đến trong xác thịt (1Ga 4,2). Nhưng vì thế, để sự trung gian của bánh
không phải là ma thuật: chính tinh thần làm cho sống, xác thịt có ích chi (Ga
6,56). Thánh Thể, Mình Máu thông ban cho tín hữu ơn mà những người đồng thời với
Đức Giêsu tìm kiếm: sự sống vĩnh cửu từ bây giờ và mãi mãi, ở với Đức Giêsu. Hôm
nay cũng vậy, người Kitô hữu thông hiệp với Đức Giêsu trong đức tin, ở với Ngài
và có sự sống đời đời.
2) “Cao quý thay mầu nhiệm đức tin” (Mgr. L.Daloz trong "Chúng ta đã thấy vinh
quang Ngài" Desclée de Brouwer, trang 87-88).
Đức Kitô phải mời gọi chúng ta đặt mình vào đỉnh cao của đức tin để mặc khải cho
chúng ta về mầu nhiệm đức tin. Chúa nhắc lại lời khẳng định đã đưa đến những lời
"xì xầm": "Ta là bánh ban sự sống”. Ngài bác lại lời bắt bẻ về manna mà người ta
nại ra để chống lại Ngài: "Trong sa mạc, cha ông các ngươi đã ăn manna và đã
chết, cho nên chưa phải là thứ bánh ban sự sống. Trái lại ai ăn bánh bởi trời sẽ
không hề chết bao giờ: ai tin và ăn bánh này sẽ sống muôn đời". Và đây là lời
tuyên bố gây vấp phạm… bánh mà Ta ban, chính là thịt Ta để cho thế gian được
sống… Tuy nhiên trước sự chống đối, Chúa Giêsu chẳng những không dịu giọng mà
trái lại còn nhấn mạnh bằng bốn câu rất rõ ràng và thực tế: "Nếu các ông không
ăn thịt Con Người và uống máu Ngài… ai ăn thịt Ta, và uống máu Ta... thịt Ta
thật là của ăn và máu Ta thật là của sống… ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì ở
trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy...". Không có lối thoát nào cả, không có cách nào
khác để có sự sống, có sự phục sinh để ở trong Ngài. Không thể rõ ràng hơn được
nữa. Hòn đá, vật chướng ngại, chính là hòn đá gốc để các môn đệ được sống, hòn
đá thử thách của sự thật về đức tin. Như thế, Thánh Thể cắm sâu vào trung tâm
của hiện hữu Kitô giáo. Trong bóng tối của mầu nhiệm, những ai muốn có sự sống
phải hướng về đó, vì đó là của ăn để sống: bánh bởi trời là như thế: rất khác
với thứ bánh mà cha ông các ngươi đã ăn, họ đã hết, nhưng ai ăn bánh này sẽ sống
đời đời. Không một lời diễn giảng, thánh sử kết thúc đơn sơ: Đó là những lời dạy
của Đức Giêsu trong hội đường Capharnaum. Đó là cách bánh hằng sống và chén cứu
độ được dặt vào tay chúng ta không một lời giải thích nào. "Cao cả thay nhầu
nhiệm đức tin".
3) “Hai bàn Tiệc" (J.Perron, trong "Đọc Kinh Thánh" số 52, trang 139-140).
Nếu tách rời những câu trước với đoạn văn này, sẽ đi đến nguy hiểm là làm nghèo
nàn đi, hơn nữa làm sai nghĩa về lời dạy về Thánh Thể của Gioan. Những gì nói về
bí tích phải để mở ra một nhân quan rộng hơn nhiều hơn những gì nói trong bài
thuyết giảng. Nếu Đức Giêsu là bánh ban sự sống trong Thánh Thể, là bởi trước
hết Ngài là bánh cho những ai tiếp nhận lời Ngài và chứng của Ngài, và vì thế
phần đầu chỉ nói đến người "tin vào", phần hai nói đến người “tin hiệp-thông",
nhưng hai phần, phần nào cũng không thể thiếu, bởi lẽ không thể nói đến "người
hiệp thông" mà trước hết người ấy không phải là kẻ tin, nếu không có sự khẳng
định ở câu 47 thì câu khẳng định 54 chẳng có nghĩa gì hay là dẫn đến tình trạng
làm cho Thánh Thể chỉ là một nghi lê ma thuật. Thánh Tôma Aquinô nhắc nhở rằng
mọi bí tích đều là "bí tích đức tin" (sacra men ta fidei). Cuối cùng nếu đức tin
có thể bỏ qua bí tích (không nói đến rước lễ thiêng liêng hay rửa tội bằng lòng
muốn) thì bí tích không thể có nếu không có đức tin. Đức tin là sự kết hiệp đầu
tiên với Đức Kitô, phải đi trước nghi lễ bí tích và hướng về đó" (A.Feuillet).
Sự tình bày về Thánh Thể này cũng mời gọi chúng ta, như các cải tổ Công đồng đã
làm, tìm lại chỗ đứng của phụng vụ Lời Chúa đi trước và chuẩn bị cho nghi lễ bẻ
bánh trong các cử hành của chúng ta - cả hai phải kết hợp với nhau cách sâu xa
như hai đoạn của bài giảng thuyết của Gioan. Các tác giả Kitô giáo xưa đã hiểu
như thế khi họ nói đến "hai bàn tiện trong Giáo Hội: "Bàn tiệc Lời Chúa và bàn
tiệc thánh". Có lẽ vì thế mà sinh ra những hậu quả đáng giận của phong trào cải
cách: sự chia cắt mà người ta có thể diễn tả một cách hài hước: người Tin lành
thì ra khỏi cửa với cuốn Kinh Thánh trong túi và người Công giáo đi ra mang theo
Mình Thánh Chúa. Lời dí dỏm, trên đây, nếu có thể nói lên một cái gì về thực tế
của sự kiện, thì phải nói rằng cả hai cộng đồng, mỗi bên chỉ giữ cho mình một
nữa mầu nhiệm Thánh Thể, một phần của bài giảng thuyết trên chủ đề "bánh ban sự
sống".
3. Bí tích Thánh Thể
Nếu đọc lại Phúc Âm, chúng ta sẽ thấy từ việc chuẩn bị đến việc thiết lập và cử
hành bí tích Thánh Thể, tất cả đều được diễn ra trong bàu khí của một bữa ăn.
Thực vậy, bữa tiệc thứ nhất đó là đám cưới Cana, tại đây Chúa Giêsu đã làm phép
lạ biến nước lã hóa thành rượu ngon. Qua phép lạ này Chúa Giêsu không phải chỉ
muốn cứu cho đôi tân khỏi bị bẽ mặt với khách mời vì thiếu rượu, mà còn muốn
củng cố niềm tin cho các môn đệ, cũng như chuẩn bị cho các ông đón nhận bữa tiệc
ly sau này, khi Ngài biến rượu thành máu thánh Người.
Tiếp đến là phép lạ Chúa Giêsu làm cho bánh hóa nhiều để nuôi dưỡng đám đông
trong hoang địa. Qua phép lạ này, Chúa Giêsu đã chính thức hứa ban cho chúng ta
thứ của ăn thiêng liêng nuôi sống linh hồn chúng ta:
- Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống, ai ăn thịt Ta và uống máu Ta
thì sẽ có sự sống đời đời. Và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại ngày tận thế. (Ga
6,55-56).
Thế nhưng, quan trọng hơn cả phải là bữa tiệc ly, qua đó Chúa Giêsu đã thiết lập
Bí tích Thánh Thể vào buổi chiều ngày Thứ năm Tuần Thánh. Phúc âm đã kể lại như
sau: Đang khi ngồi ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao
cho các môn đệ và phán:
- Tất cả các con hãy cầm lấy mà ăn, này là mình Ta sẽ bị nộp vì các con.
Cùng một thể thức ấy Người cầm lấy chén, tạ ơn, trao cho các môn đệ và nói:
- Tất cả hãy cầm lấy mà uống vì này là chén máu Ta, máu giao ước sẽ đổ ra cho
các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta. (Mt
26,26-29).
Cuối cùng, đó là bữa ăn nơi quán trọ gần làng Emmaus. Sau khi hai môn đệ mời
Người vào nghỉ chân, Người đã cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho
họ. Và họ đã nhận ra Người đã Phục sinh, đã sống lại. (Lc 24,13 -35).
Nhìn vào đời thường, chúng ta thấy, những người cùng ngồi ăn với nhau trong một
bàn tiệc trong một bữa cơm, thường có một mẫu số chung nào đó. Mẫu số chung ấy
có thể là tình nghĩa gia đình, tình nghĩa bè bạn. Mẫu số chung ấy còn có thể là
một niềm vui, một nỗi buồn, hay một công việc cùng làm. Vì thế, bữa ăn trở nên
một biểu tượng của tình yêu, của cảm thông, của hợp nhất.
Bàn tiệc Thánh Thể cũng vậy, phải là biểu tượng của yêu thương, của cảm thông,
của hợp nhất, như lời thánh Phaolô:
- Chúng ta tuy nhiều, nhưng cùng chia sẻ một tấm bánh và làm nên một thân thể
Đức Kitô. (1Cr 10,17)
Vì thế, sống Bí tích Thánh Thể cũng chính là sống yêu thương, sống cảm thông,
sống hợp nhất. Chúng ta phải bắt chước cộng đoàn Giêrusalem ở những năm tháng
đầu tiên khi Giáo hội còn phôi thai. Từ nghi thức bẻ bánh trở về, họ đã gom góp
tài sản riêng làm của chung, rồi phân phối theo nhu cầu của mọi người, đến nỗi
dân ngoại đã phải thán phục và kêu lên:
- Kìa xem họ yêu thương nhau biết là chừng nào. (Cv 2,42-46).
Còn chúng ta thì sao? Hằng ngày, hay ít nữa là hàng tuần, chúng ta đều đến nhà
thờ tham dự thánh lễ, thế nhưng, trong cuộc đời, chúng ta đã thực sự sống yêu
thương, sống cảm thông và sống hiệp nhất với nhau hay chưa?
4. Một trao đổi khôn tưởng
Bài Phúc Âm này là phần chính của bài giảng về bánh sự sống, được Chúa dạy sau
phép lạ hóa bánh ra nhiều và bước đi trên nước. Qua những phép lạ ấy, Chúa Giêsu
đã chứng tỏ quyền năng của Ngài trên thiên nhiên, trên thân thể Ngài và quyền
phân phát vô tận lương thực thần linh, mà bánh hóa nhiều là biểu tượng. Như đối
với phần đông các bản văn của thánh Gioan, đoạn này đòi hỏi sự suy niệm và đón
nhận chăm chú hơn là lời bình giải. Chính để giúp suy niệm, mà một vài ghi chú
sau đây được đề ra:
1) “Ta là bánh sự sống từ trời xuống”
Chúng ta có thể giải thích lời này như một mệnh đề phát biểu sự kiện Nhập Thể.
Sự sống đời đời hứa cho ai ăn bánh ấy là sự sống siêu nhiên, do Đức Kitô mang
đến cho kẻ nào tin vào Ngài như là Đấng được Chúa Cha sai đến. Nhưng lời ấy còn
có ý nghĩa khác. “Bánh Ta sẽ ban là thịt Ta chịu nộp cho thế gian được sống”. Ở
đây Chúa Giêsu nói về tương lai. “Bánh” cho đến đây có thể chỉ Chúa Giêsu lương
thực đức tin, nay mang một ý nghĩa mới: Đức Kitô -Bánh ăn– đã trao nộp thịt mình
cho thế gian được sống. Điều ấy có nghĩa là nếu phép Thánh Thể là một lương
thực, đồng thời cũng là lễ hy sinh. Đức Kitô tự nộp làm của lễ hy sinh trong
cuộc tử nạn trên thập giá. Thánh Thể đồng hóa hy lễ ấy và tiếp nối cho đến mãi
mãi. Chúng ta có nghĩ rằng khi tham dự vào bàn tiệc của Chúa, mối dây liên kết
huynh đệ đầu tiên và chính yếu nhất nối liền chúng ta với hy lễ của Ngài hay
không? Những buổi cử hành phép Thánh Thể nối kết làm một sự thông hiệp của chúng
ta với nhau. Đừng bao giờ chia cắt những gì Chúa đã liên kết. Các thánh lễ của
chúng ta, cử hành chia sẻ, cũng phải cử hành lòng thờ phượng.
2) Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, người ấy ở trong Ta và Ta ở trong người ấy.
Lời này của Chúa cho thấy rõ một sự hỗ tương quan trọng. Thực vậy, thoạt xét
người ta có thể đơn giản nghĩ rằng Đức Kitô ở trong người nào ăn mình Ngài. Như
thế chưa đủ, điều ngược lại cũng đúng. Người ước ao mình được ở trong Ngài,
người ấy được đi vào và ở trong Đấng tạo dựng cứu chuộc, viên mãn của mình. Làm
sao nghĩ tưởng một điều như vậy? Chúa đã muốn như thế. Ngài ban cho con người
một khả năng phi thường hòa nhập vào thần linh. Khi rước mình Đức Kitô, người
tín hữu tiến dần đến sự hòa nhập với Đức Kitô. Nếu nghĩ rằng con người sẽ biến
Thiên Chúa thành người khi được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu Ngài thì thật là ấu
trĩ. Con người được biến thành Thiên Chúa mới đúng. Con Thiên Chúa khi hiến thân
làm lương thực thần hóa người nào được ăn Ngài. Ngài cho người ấy được tham dự
vào bản tính thần linh. Điều này khiến ta nghĩ đến câu tán tụng của mùa Giáng
Sinh: Ôi trao đổi kỳ diệu, Thiên Chúa làm người để người được nên Thiên Chúa.
5. Thánh lễ làm cho chúng ta trở thành anh em
Càng ngày người ta càng nghe câu nói làm tổn thương đến đời sống Kitô hữu: “Tôi
là tín hữu nhưng không hành đạo”. Tôi hy vọng rằng tất cả con người bạn nổi lên
chống lại cái khẳng định tách rời sự “hành đạo” với “đức tin” này. Nhưng chúng
ta hãy xem xét kỹ mối dây liên kết giữa hai điều trên.
Việc chúng ta suy niệm về Bánh Hằng Sống sẽ chỉ cho chúng ta thấy mối liên kết
giữa hai phần của cuộc sống Kitô hữu: “Nếu các ngươi không ăn thịt Ta, nếu các
ngươi không uống máu Ta, các ngươi sẽ không có sự sống”
Tiếng cốt lõi đó là: sự sống. Người tín hữu không hành đạo rất có ý muốn “sống
đức tin” của mình. Và điều này được thể hiện tức khắc do một mối quan tâm chính
đáng về tình yêu thương anh em: “Tôi tin vào Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài.
Chúa Kitô không đòi hỏi tôi phải đi lễ, Ngài đòi hỏi tôi phải yêu thương”.
Ngài đòi hỏi cả hai việc! Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Các con hãy yêu thương
nhau như Thầy đã yêu thương các con”, cũng chính là Chúa Giêsu đã báo trước cho
chúng ta: “Nếu các con không hiệp thông cùng thịt và máu Ta, các con sẽ không có
sự sống. Sự sống này cho phép các con là anh em với nhau như Thầy là anh em với
các con”.
Phép Thánh Thể kết hợp chúng ta với cuộc sống của Chúa Kitô đến nỗi chúng ta
không dám nghĩ đến điều đó nếu chính Ngài không nói với chúng ta: “Ai ăn thịt Ta
và uống máu Ta thì kẻ ấy ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy”. Tôi nghĩ đến một câu
rất hay của thánh Cypriano: “Ai chiếm trọn tâm lòng chúng ta kẻ ấy cũng được
chúng ta nói đến”. Người ta có thể thêm: người ấy cũng hiện diện trong các cử
chỉ của chúng ta, trong cách thức chúng ta yêu thương nữa.
Người tín hữu muốn yêu thương mà “không đi lễ” thì không thấy được rằng họ ít có
đức tin bởi vì họ không tin vào một lời nói mạnh mẽ của Chúa Giêsu: “Không ăn
Bánh Hằng Sống thì các ngươi sẽ không có sự sống”. Người tin nửa vời này và
người không tin có thể rất thương yêu nhau như anh em. Điều này rất thường gặp.
Nhưng họ khó và hiếm khi yêu thương “như Chúa Giêsu”. Đối với người không tin,
đây là điều bình thường. Đối với người tín hữu thì đây là một sự lệch lạc: muốn
là môn đệ của Chúa Giêsu, bắt chước Chúa Giêsu mà không nuôi dưỡng mình bằng sự
sống của Ngài.
Tôi biết rõ vấn nạn kinh khủng này: thực ra, người tín hữu hành đạo không bỏ lễ
có yêu thương anh em đến thế chăng?
Trước hết, vơ đũa cả nắm là điều không tốt. Có những người tôn sùng Thánh Thể mà
sự dễ thương và lòng độ lượng nói lên rất nhiều về “sự sống của Chúa Kitô” nơi
họ.
Nhưng vấn đề Thánh Thể –liên quan đến tất cả chúng ta- chính là vấn đề sức sống
Thánh Thể của chúng ta. Nhận lãnh sự sống bằng cách ăn Bánh Hằng Sống đòi hỏi
một sự chú ý, một sự gắn bó bên trong là những điều thường quá thiếu vắng. Rước
lễ dần dần trở nên ma thuật và thói quen, như thể việc di chuyển và giơ hai tay
ra là đủ để trở nên một người xin sự sống đầy quyền lực. Không, điều này đòi
buộc một niềm tin thức tỉnh nói với chúng ta lúc ấy, là tại sao chúng ta đi rước
lễ và chúng ta vừa nhận lãnh thứ lương thực gì. “Một thứ bánh bị bẻ ra vì một
thế giới mới”, một cuộc sống bị nghiền nát để chúng ta có thể thoát ra khỏi ích
kỷ và kiêu ngạo. Không có cái chết này làm sao chúng ta là anh em với nhau được?
6. Thánh Lễ nối dài
Nhân ngày lễ kính Mình và Máu thánh Đức Kitô hôm nay, tôi muốn trình bày về mối
liên hệ giữa thánh lễ với cuộc đời mỗi người chúng ta. Mối liên hệ ấy được diễn
tả qua hai ý tưởng.
Ý tưởng thứ nhất: cuộc đời chính là một thánh lễ được nối dài.
Thực vậy, có nhiều người trong chúng ta chỉ sống đạo trong nhà thờ, nhưng lại
không sống đạo giữa lòng cuộc đời. Tới nhà thờ, họ là những con chiên ngoan.
Nhưng khi thánh lễ kết thúc, bước xuống cuộc đời, họ lại vội vã dẹp bỏ niềm tin,
như cởi bỏ bộ quần áo đẹp họ mặc vào khi đi tham dự thánh lễ, cất kỹ trong tủ,
để hóa kiếp trở thành một loài lang sói bằng những hành động thù oán, bất công
và ghen ghét.
Họ tách biệt thánh lễ ra khỏi cuộc đời và trong suốt khoảng thời gian còn lại,
họ quên đi mình là người Kitô hữu.
Tôi nghĩ rằng cách sống đạo chỉ hạn hẹp trong bốn bức tường nhà thờ chắc chắn sẽ
không thể nào làm đẹp lòng Chúa, bởi vì chính Ngài đã muốn chúng ta phải sống
đạo giữa đời. Ngài đòi hỏi chúng ta phải trở nên như men trong bột, như muối
trong thức ăn, như ánh sáng trong đêm tối. Nghĩa là tình thần của Phúc âm phải
thấm nhiễm vào toàn bộ cuộc sống chúng ta, rồi từ nền tảng ấy, nó dần dần cải
tạo cái môi trường xã hội chúng ta đang tiếp xúc.
Khi vị Linh mục nói với chúng ta:
- Lễ đã xong, chúc anh chị em ra về bình an.
Điều ấy không có nghĩa là: thánh lễ đã kết thúc khi cánh cửa nhà thờ khép lại,
trái lại còn phải mở ra cho chúng ta một thánh lễ khác nữa, thánh lễ giữa lòng
cuộc đời, thánh lễ của chính cuộc sống.
Điều ấy còn muốn nói lên rằng chúng ta phải kéo dài thánh lễ từ nhà thờ đến cuộc
sống, phải biến cuộc đời chúng ta trở thành một thành lễ nối dài, phải thực hiện
tinh thần thánh lễ trong chính môi trường và hoàn cảnh xã hội. Hay nói một cách
khác: điều quan trọng không phải chỉ là phải sống đạo trong nhà thờ, mà còn phải
sống đạo trong cuộc đời. Mỗi người chúng ta phải trở nên muối ướp cho xã hội
khỏi ươn thối, phải trở nên men làm cho xã hội dậy lên hương thơm thánh thiện,
phải trở nên ánh sáng phá tan bóng tối đang bao phủ xã hội. Và như vậy, cuộc đời
chính là một thánh lễ được nối dài.
Ý tưởng thứ hai: Dưới một góc độ nào đó, Thánh lễ cũng chính là cuộc đời được
kết đọng lại.
Thực vậy, nhiều khi chúng ta đã có quan niệm sai lạc, coi việc đi tham dự thánh
lễ như đi xem một vở kịch, một cuốn phim, để rồi có thái độ hoàn toàn thụ động
và dửng dưng.
Trong khi đó, thánh lễ đòi hỏi mỗi người tham dự phải có một thái độ tích cực.
Chúng ta cùng dâng thánh lễ với vị Linh mục, bởi vì chúng ta cùng sống một tâm
tình, cùng dâng một lễ vật là Mình và Máu thánh Đức Kitô.
Ngoài ra, lễ vật riêng tư của mỗi người còn là những lao công vất vả, những khổ
đau buồn phiền, những gian nguy thử thách mà chúng ta gặp phải trong cuộc sống.
Chúng ta dâng lên cùng với Mình và Máu thánh Đức Kitô, nhờ đó những hy sinh nhỏ
bé và tầm thường của chúng ta sẽ có được một giá trị thiêng liêng to lớn, trở
nên như một góp phần vào hy lễ thập giá, đồng thời trở nên như những sợi chỉ
vàng dệt thành tấm vải cuộc đời của chúng ta.
Như thế, dưới một góc cạnh nào đó, thánh lễ cũng chính là cuộc đời được kết đọng
lại. Chúng ta nên nhớ rằng: Thánh lễ trong nhà thờ cần phải được tiếp nối trong
cuộc sống thường ngày bằng cách chấp nhận những gian khổ là như thập giá Chúa
muốn chúng ta vác lấy, cũng như bằng cách thực thi những hành động bác ái yêu
thương, giúp đỡ những người chung quanh. Đồng thời, cuộc sống của chúng ta cũng
cần phải được cử hành trong thánh lễ tại nhà thờ bằng cách dâng lên Chúa những
thập giá, những hy sinh chúng ta gặp phải.
Và như vậy, có một sự pha trộn, có một sự hòa nhập, có một sự liên hệ mật thiết
giữa thánh lễ được cử hành trong nhà thờ với cuộc đời chúng ta đang sống.
7. Sức sống
Tại Tây Ban Nha có một câu chuyện về cậu bé tên là Marcellino. Mới sinh ra cậu
bị người ta quăng trước cửa tu viện, và đã được các tu sĩ đem về nuôi.
Vốn tính hay nghịch ngợm, nên thày đầu bếp không cho cậu leo lên gác. Nhưng vì
tò mò, một ngày kia Marcellino lén leo lên, cậu ngạc nhiên thấy một người khổng
lồ bị treo trên thập giá. Nghĩ rằng người ấy chắc là đói lắm, nên đêm hôm ấy
Marcellino vào bếp ăn cắp bánh mang lên cho ông. Người khổng lồ đưa tay nhận
bánh và mỉm cười với cậu.
Từ đó, ngày nào cậu cũng đem bánh cho người ấy. Ngày kia, ông âu yếm ôm lấy cậu
bé và hỏi:
- Con thích nhất điều gì trên trần gian này?
Cậu mau mắn thưa:
- Con muốn được gặp mẹ con.
Người ấy liền nói với cậu bé:
- Con sẽ được gặp mẹ con ngay tức khắc nếu con chấp nhận phải chết đi.
Hôm sau các thầy tìm thấy cậu nằm chết như đang ngủ say trong vòng tay thương
mến của Chúa Giêsu.
Vì yêu thương mẹ, muốn được ở bên mẹ, mà Marcellino đã bằng lòng chịu chết. Vì
yêu thương con người, Đức Giêsu cũng đã sẵn lòng chịu chết để cho con người được
sống. Hơn nữa, Người còn có sáng kiến là hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, để
được ở mãi với con người, để làm của ăn của uống, như lương thực nuôi dưỡng con
người trên cuộc hành trình về quê trời. Người đã hứa: “Ai ăn bánh này sẽ được
sống muôn đời”.
Thánh Thể là Bí tích Tình Yêu. Khi mời gọi: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến
Thầy”, Đức Giêsu muốn các Kitô hữu hãy lập lại cái chết tự hiến vì yêu thương
của Người, bằng cả cuộc sống dấn thân và trao ban.
Khi lãnh nhận bánh Thánh Thể, người tín hữu ý thức mình đang lãnh nhận tình yêu
Chúa. Và như dòng suối ân tình, họ lại tuôn trào tình yêu Chúa sang cho anh em
đồng loại.
Khi chia sẻ bàn tiệc Thánh Thể, người tín hữu cũng muốn chia sẻ cơm bánh cho tha
nhân, chia sẻ hồng ân của Đức Kitô cho những kẻ đói nghèo, túng thiếu, không nơi
nương tựa.
Chính khi nhận lãnh Thánh Thể để rồi chia sẻ trao ban, người tín hữu lại nhận
được sự sống trường sinh và niềm vui lại tràn ngập tâm hồn.
Vì thế, sống Bí tích Thánh Thể chính là sống yêu thương, sống Bí tích Thánh Thể
là sống cho và vì Đức Kitô, sống Bí tích Thánh Thể là sống như Đức Kitô đã sống
và đã hiến trao cách quảng đại cho tha nhân.
Người tín hữu không lãnh nhận bánh Thánh Thể để cất giữ cho riêng mình, nhưng là
để biến con người mình thành lương thực nuôi dưỡng anh em.
Việc chia nhau một tấm bánh nhắc nhở chúng ta sống là phải chia sẻ và trao ban,
sống là yêu thương và hy sinh cho nhau.
Trong thánh lễ bế mạc Đại hội Thánh Thể Quốc tế lần thứ 45, Đức Thánh Cha kêu
gọi: “Chúng ta rước Mình Thánh Chúa Kitô mà đồng thời lại sống xa lạ với những
người đang đói khát, kẻ bị bóc lột, tù đày hay đau yếu”.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, khi chúng con sống yêu thương là chúng con đang làm
chứng rằng: Chúa chính là sức sống mãnh liệt của chúng con.
Xin cho chúng con khi lãnh nhận bánh Thánh Thể cũng đón nhận được sức sống mới
của Chúa, để chúng con ra đi làm chứng cho tình yêu Chúa trong cuộc sống chúng
con.
8. Lương thực
Một số anh chị em dự tòng sau khi được học hỏi về sự cao quý, về tầm quan trọng
và về sự cần thiết của thánh lễ cũng như của bí tích Thánh Thể đã đưa ra câu
hỏi: Nếu thánh lễ và mầu nhiệm Thánh Thể cao quý và cần thiết cho đời sống
thiêng liêng như vậy, thì tại sao nhiều người Công giáo lại không đi dâng lễ,
hay nếu có đi thì lại ngồi ở ngoài hút thuốc, nói chuyện, chơi giỡn và hầu như
không bao giờ rước Mình Thánh Chúa?
Một câu hỏi quả là gây nhức nhối và rất đáng để những người mang danh là Kitô
hữu phải suy nghĩ. Có lẽ ta khó có thể tìm được một lý do nào chính đáng để trả
lời cho thắc mắc này ngoài việc thú nhận rằng; do yếu kém về giáo lý, do thiếu
hiểu biết về Chúa, về những gì Người đã dạy và đã làm, do thiếu ý thức về những
sự thánh thiêng, do thiếu trưởng thành trong đời sống đạo nên mới xảy ra những
trường hợp như vậy. Vì những cái thiếu kể trên nên nhiều người đã không thấy
được sự cao quý và tầm quan trọng của việc dâng lễ và việc rước Thánh Thể. Những
người này coi việc đi dâng lễ ngày Chúa nhật chỉ là một khoản luật phải giữ để
khỏi có tội, để khỏi bị phạt mà thôi. Họ không ý thức rằng Thánh Lễ và Thánh Thể
là những điểm hẹn để họ gặp gỡ Thiên Chúa là Cha của mình. Họ cũng không biết
rằng đây là cơ hội rất quý báu để có thể kín múc lấy nguồn sự sống, nguồn ân
sủng cần thiết cho cuộc đời.
Thánh lễ và bí tích Thánh Thể không do Hội Thánh, không do bất cứ ai bịa đặt ra,
nhưng là do chính Chúa Kitô thiết lập. Thánh Lễ ngày nay tái diễn và làm sống
lại hy lễ Chúa Kitô đã dâng khi xưa trên thánh giá để tiếp tục chuyển thông ơn
cứu rỗi cho mọi người, mọi thời và mọi nơi. Và Thánh Thể chính là lương thực
nuôi sống linh hồn ta trong hành trình làm người, cũng là hành trình đi về quê
hương trên trời. Chúa Giêsu đã nói đi nói lại nhiều lần: “Thịt tôi thật là của
ăn, máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì sẽ được sống
đời đời”. Ngay cả khi Người biết rõ ràng rằng: Nếu Người nói ra những điều ấy,
người ta sẽ không tin, sẽ nhạo cười và sẽ bỏ đi, Người vẫn cứ nói. Điều đó cho
thấy vấn đề Chúa Giêsu nói ra quan trọng và cần thiết như thế nào.
Con người không chỉ có thân xác nhưng còn có linh hồn. Và mục đích của đời sống
làm người không chỉ là sự no đủ cơm áo phần xác mà còn là sự no đủ của đời sống
tâm linh nữa: “Người ta sống không chỉ bởi bánh”.
Thiết tưởng mỗi người chúng ta đang hiện diện nơi đây đều có dư khả năng để nhận
thức điều này. Vấn đề còn lại là thái độ của chúng ta đối với Thánh Lễ và Thánh
Thể như thế nào mà thôi.
9. Thánh Thể
Một hôm, người ta hỏi một em bé chín tuổi mới được rước lễ lần đầu: “Đâu là sự
khác biệt giữa cây thánh giá và Mình Thánh Chúa?”. Em bé ấy đã trả lời rất hay
và rất đúng rằng: “Trên cây thánh giá, người ta thấy Chúa Giêsu. Nhưng Ngài
không có ở đó. Còn trong bánh Thánh, người ta không thấy Ngài, nhưng Ngài ở
trong đó”. Đúng vậy, về phép Thánh Thể người ta không thể nhìn bằng con mắt xác
thịt, mà chỉ có thể nhìn bằng con mắt đức tin, bởi vì đây là một mầu nhiệm đức
tin, nhưng đây cũng là một mầu nhiệm của tình yêu thương. Chúng ta hãy tìm hiểu
nhân ngày lễ trọng kính Mình Máu Thánh Chúa hôm nay. Trong bữa tiệc ly, bữa tiệc
cuối cùng của Chúa Giêsu với các môn đệ vào chiều ngày thứ năm tuần thánh, Chúa
đã làm một việc rất quan trọng, đó là biến bánh miến thành thịt Ngài và biến
rượu nho thành máu Ngài, đồng thời Chúa truyền cho các môn đệ hãy làm như vậy để
tưởng nhớ đến Ngài. Như vậy, bữa tiệc ly này đã trở thành thánh lễ đầu tiên do
chính Chúa Giêsu, là linh mục tối cao, cử hành, và việc biến bánh rượu trở nên
Mình Máu Ngài là bí tích Thánh Thể do Chúa thiết lập và Chúa muốn sự kiện cao
quý này, tức là thánh lễ, được tiếp diễn luôn mãi qua các môn đệ của Ngài.
Vì thế, trong thánh lễ, khi linh mục lặp lại những lời của Chúa Giêsu: “Này là
Mình Thầy”, “Này là chén Máu Thầy”, tức thì bánh không còn là bánh, rượu không
còn là rượu nữa, nhưng là Mình và Máu Chúa Giêsu. Dĩ nhiên đây là một chân lý
cao siêu, vượt quá sự hiểu biết của trí khôn loài người. Bởi vì trước và sau khi
linh mục đọc lời truyền phép, chúng ta có nhìn xem, đụng chạm tới hay nếm một
tấm bánh chưa truyền phép và một hình bánh đã truyền phép, chúng ta chẳng thấy
có gì khác nhau, hay là có đưa vào phòng thí nghiệm để phân chất, chúng ta vẫn
thấy như thường về phẩm chất, khối lượng và hình thức. Tuy nhiên, theo đức tin,
thì lại khác xa nhau một trời một vực: một đàng là Mình Máu Thánh Chúa Giêsu,
một đàng là tấm bánh nhỏ bé, tầm thường. Chính vì thế, sau truyền phép, linh mục
lớn tiếng công bố: Đây là màu nhiệm đức tin.
Đúng vậy, Thánh Thể là một bí tích đức tin. Nhưng cũng còn là bí tính tình yêu.
Tại sao vậy? Thánh Gioan tông đồ đã viết: Chúa Giêsu đã yêu thương các môn đệ
của Ngài và đã yêu thương họ đến cùng. Yêu thương đến cùng có nghĩa là yêu
thương đến tột bực. Tột bực tình yêu của Chúa Giêsu ở đây là việc lập phép Thánh
Thể, để từ nay Ngài trở thành nơi gặp gỡ tình yêu giữa Ngài với chúng ta và giữa
chúng ta với nhau.
Sau hết, Thánh Thể còn là bí tích của sự chia sẻ. Chúng ta biết: Chúa Giêsu đã
lập bí tích Thánh Thể trong bầu khí thân tình của một bữa ăn từ giã. Tấm bánh
Chúa đã cầm và phân chia cho các môn đệ cũng như chén rượu Ngài đã trao cho các
môn đệ là để họ cùng ăn cùng uống trong tình huynh đệ, và chính việc chia sẻ này
đã được Chúa dùng như dấu chỉ để các môn đệ làm mà nhớ đến Ngài. Cũng vậy, ý
thức chia sẻ đòi buộc mỗi người chúng ta không được đóng khung những buổi cử
hành Thánh Thể bên trong nhà thờ, nhưng phải sống mầu nhiệm Thánh Thể, mầu nhiệm
yêu thương ngay trong cuộc sống hằng ngày. Chúng ta cũng không thể cử hành Thánh
Thể một cách trung thực nếu chúng ta sống dửng dưng ích kỷ, không quan tâm đến
những anh chị em chung quanh. Nếu chúng ta nghèo của cải vật chất, chúng ta hãy
chia sẻ, hãy cho nhau tình thương, sự thông cảm, vị tha, bác ái dưới mọi hình
thức với hết mọi người.
Bí tích Thánh Thể cao quý biết bao và đem lại ơn ích biết bao nhiêu. Thế mà
nhiều người vẫn còn thờ ơ hoặc chưa yêu mến cho thật đầy đủ. Được bao nhiêu
người rước lễ, có người chỉ rước lễ một năm một lần. Nhiều người rước lễ không
nên, hoặc không chuẩn bị đầy đủ hoặc không cám ơn đàng hoàng. Đến nhà thờ là gặp
Chúa, tâm sự với Chúa, thế mà có những thái độ bất kính: nói chuyện riêng, có
những cử chỉ bất kính. Chúng ta hãy xin Chúa tha thứ và cố gắng sống tốt đẹp
hơn.
10. Tấm bánh
Là con người, chúng ta không thể chỉ sống bằng cơm bánh. Chúng ta còn phải chịu
đựng nhiều kiểu đói khát. Chúng ta hãy mở Tin mừng, để hiểu về những loại tấm
bánh khác nhau, mà Đức Giêsu đã ban cho nhân loại, từ đó, Người đang làm thỏa
mãn nhiều khao khát của họ.
Đối với những người đã đi theo Chúa vào sa mạc, và những người đang đói khát,
Người đã ban cho họ bánh ăn hằng ngày, nhờ đó, đã làm thỏa mãn được cơn đói về
thể lý của họ.
Đối với những người phong cùi mà thân thể đang bị héo mòn, Người đã ban cho họ
tấm bánh duy nhất có ý nghĩa quan trọng đối với họ – đó là được chữa lành bệnh
tật.
Đối với người phụ nữ đang ở một mình tại giếng Giacóp, Người đã ban cho bà tấm
bánh của lòng ân cần tử tế, và do đó, đã làm thỏa mãn lòng khao khát được chấp
nhận.
Đối với những người tội lỗi, Người đã ban cho họ tấm bánh của ơn tha thứ, do đó,
đã làm thỏa mãn lòng khao khát được cứu độ.
Đối với những người bị khước từ và ruồng bỏ, bằng cách hòa hợp với họ, cùng ăn
uống với họ. Người đã ban cho họ tấm bánh của tình thân hữu, do đó, đã làm thỏa
mãn lòng khao khát được cảm thấy mình có giá trị.
Đối với người góa phụ thành Naim, một người đã chôn cất đứa con trai duy nhất,
và đối với Marta và Maria, là những người chị vừa mới chôn cất em trai họ là
Lagiarô, Người đã ban cho họ tấm bánh của lòng thương xót, và đã chứng tỏ cho họ
thấy rằng ngay cả trong cái chết, chúng ta vẫn có thể được Thiên Chúa cứu giúp.
Đối với Giakêu, một người thu thuế giàu có, đã tước đoạt bánh từ bàn ăn của
người nghèo, Người đã bắt đầu bằng cách tự để cho Người được mời vào bàn ăn của
ông ta. Sau đó, Người đã đánh thức nơi ông ta một niềm khao khát được có một đời
sống tốt đẹp hơn, Người đã giúp ông ta biết chia sẻ cho người nghèo tiền bạc bất
chính của mình.
Đối với kẻ trộm chết bên cạnh mình, Người đã ban cho anh ta tấm bánh của sự hòa
giải với Thiên Chúa, do đó, Người đã ban lại bình an cho tâm hồn bị bối rối của
anh ta. Nhưng thật đáng ngạc nhiên, có một người lại khước từ tấm bánh Đức Giêsu
ban.
Có một thanh niên giàu có, được Người ban cho tấm bánh của đời sống ngay chính,
nhưng đã từ chối, vì anh ta không muốn từ bỏ những của cải của mình.
Có những ký lục và Pharisêu được Người ban cho không chỉ một lần, mà nhiều lần,
tấm bánh của sự hoán cải, nhưng họ đã từ chối dù chỉ một mẫu bánh.
Có những người dân thành Giêrusalem mà Người yêu dấu, trong những dòng nước mắt,
Người đã ban cho tấm bánh của sự bình an, nhưng họ đã từ chối, và hậu quả là
thành phố của họ bị phá hủy.
Có một ông quan Philatô, mà Người ban cho tấm bánh của sự thật, nhưng ông ta
không hề thèm khát muốn ăn, vì nó đặt địa vị của ông ta vào tình trạng rủi ro.
Đức Giêsu đã chia sẻ chính Người cho mọi người, bằng nhiều cách thức khác nhau,
và dưới nhiều hình thức khác nhau, trước khi ban cho họ bản thân mình như là
thức ăn và nước uống, trong bữa Tiệc Ly.
Đức Giêsu nuôi dưỡng chúng ta bằng rất nhiều cách đặc biệt trong Phép Thánh Thể.
Chỉ khi nào chúng ta đánh mất ý nghĩa sự hiện diện của Đức Kitô trong tất cả mọi
mặt, thì sự hiện diện của Người trong Phép thánh Thể trở nên một vấn đề. Những
người có ý thức sâu xa về sự hiện diện của Thiên Chúa trong toàn bộ tạo vật, thì
sẽ không gặp khó khăn gì lớn, trong việc tin tưởng rằng Người đang hiện diện
bằng một cách thức rất đặc biệt trong Phép Thánh Thể.
Chỉ duy nhất Thiên Chúa là Đấng thỏa mãn được những khao khát và mong mỏi của
tâm hồn chúng ta, vì chỉ một mình Người có thể ban cho chúng ta tấm bánh sự sống
đời đời. Đây là tấm bánh mà chúng ta được đón nhận trong Phép Thánh Thể. Nếu
không có tấm bánh đó, chúng ta sẽ không có sức mạnh để đi theo Đức Kitô.
11. Duy nhất
Trong suốt những năm từ 1984 đến 1986, Ethiopie đã phải chịu đựng một nạn đói
khủng khiếp. Đức Hồng y Hume ở Westminster kể lại một sự kiện đã xảy ra, khi
ngài thăm viếng Ethiopie giữa thời kỳ nạn đói. Một trong những nơi mà ngài thăm
viếng là một trại định cư nằm trên các sườn đồi, tại đó, dân chúng đang chờ đợi
thực phẩm không chắc sẽ được gửi tới. Đức Hồng Y đã được chở đến đó bằng trực
thăng.Ngay khi ngài vừa mới bước ra khỏi trực thăng, thì có một bé trai, khoảng
độ 10 tuổi, chạy đến và nắm bàn tay của ngài. Cháu bé không mặc quần áo gì cả,
chỉ đóng một cái khố nhỏ mà thôi. Suốt thời gian mà Đức Hồng Y có mặt ở đó, cháu
bé này không hề buông tay mình ra khỏi bàn tay của ngài.
Trong khi Đức Hồng y và bé trai này đi bên nhau, cháu bé có hai cử chỉ: cháu
dùng một bàn tay chỉ vào miệng của mình, còn bàn tay kia vẫn nắm chặt bàn tay
Đức Hồng Y, và ép sát bàn tay ngài lên má của mình.
Sau này, Đức Hồng Y đã nói: “Đây là một đứa trẻ mồ côi, đã bị mất hết cha mẹ vì
nạn đói. Tuy nhiên, bằng hai cử chỉ đơn giản đó, cháu bé đã chứng tỏ hai nhu cầu
đói khát căn bản của con người. Bằng cử chỉ đầu tiên, cháu bé đã cho tôi thấy
cơn đói ăn của mình, và bằng cử chỉ kia, cháu đã nói lên nhu cầu được yêu
thương. Không bao giờ tôi quên được sự kiện đó, và cho đến hôm nay, tôi vẫn thắc
mắc không biết cháu bé đó còn sống không. Tôi còn nhớ là khi bước lên trực
thăng, cháu cứ đứng nhìn tôi bằng một cái nhìn đầy trách móc”.
Bài đọc hôm nay nói: “Con người không chỉ sống bằng cơm bánh, nhưng còn bằng mọi
lời từ miệng Thiên Chúa phán ra”. Đức Giêsu đã trích dẫn những lời này, trong
khi Người bị cám dỗ ở trong sa mạc.
Chúng ta cần có cơm bánh hàng ngày. Đó là nhu cầu đầu tiên và cơ bản nhất của
con người. Nhưng chúng ta còn cần nhiều hơn thế nữa. Cơm bánh chỉ nuôi dưỡng
chúng ta phân nửa mà thôi – đó là về mặt thể lý. Nhưng chúng ta còn có mặt tinh
thần nữa. Tinh thần cũng kêu gào đòi được nuôi dưỡng. Ngay cả đứa trẻ đang chết
đói trên đây cũng đã nhận ra điều đó. Trong Phép Thánh Thể, chúng ta được nuôi
dưỡng bằng lương thực là lời của Thiên Chúa, lời hằng sống có tác động an ủi,
hướng dẫn, truyền cảm hứng, và thử thách chúng ta. Và trong sự hiệp thông Thần
Thánh, chúng ta được nuôi dưỡng bằng lương thực là sự sống đời đời. Trong bữa
tiệc Thánh Thể, chúng ta có lương thực nuôi dưỡng tư tưởng, tâm hồn và tinh thần
của mình. Ở đây, chúng ta cảm nghiệm được sự hiện diện kéo dài của Đức Kitô với
chúng ta. Người không hiện diện với tư cách như là một ký ức mơ hồ của một con
người đã sống từ trước đây rất lâu, nhưng là một sự hiện diện đích thực, ban sự
sống làm biến đổi chúng ta. Bằng cách đón nhận lương thực là Phép Thánh Thể,
chúng ta được nuôi dưỡng, và giống như Đức Kitô, chúng ta cũng có khả năng nuôi
dưỡng cả những người khác nữa.
12. Tình yêu của Thiên Chúa
Mừng kính Mình và Máu Thánh Đức Kitô, chúng ta cùng nhau chia sẻ một vài ý nghĩ
đơn sơ về tình yêu Thiên Chúa đã dành cho chúng ta, nhất là qua bí tích Thánh
Thể.
Thực vậy, tình yêu là một đề tài xưa như trái đất và được đề cập đến nhiều nhất
qua sách vở, qua nghệ thuật cũng như qua cuộc sống. Tuy nhiên, con người vẫn
chưa khai triển hết vẻ phong phú của tình yêu, cho nên tới bây giờ, tình yêu vẫn
còn là một câu chuyện thời sự nóng bỏng trên môi miệng chúng ta.
Nếu đưa mắt nhìn xem, chúng ta sẽ thấy cuộc sống của chúng ta được dệt nên bởi
biết bao nhiêu yêu thương. Những người bạn chân thành luôn nâng đỡ để cùng nhau
theo đuổi một mục đích, một lý tưởng. Những cặp tình nhân mà trái tim luôn đập
cùng một nhịp yêu thương. Những người mẹ luôn ân cần nuôi dạy những đứa con thơ
dại. Tình yêu ở trước mặt cũng như ở sau lưng chúng ta. Thế nhưng, đâu là mẫu số
chung cho những thứ tình yêu ấy? Đâu là điểm làm cho mặc cho những thứ tình yêu
ấy một giá trị và đưa chúng vào một lãnh vực cao cả hơn?
Tôi xin trả lời:
- Đó là sự hy sinh.
Thực vậy, đúng như tuc ngữ đã bảo:
- Yêu nhau chẳng quản xa gần,
Mấy sông cũng lội,, mấy ngàn cũng qua.
Đã yêu thương nhau, thì sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh cho nhau và vì nhau để
mưu cầu hạnh phúc cho nhau, nhu một câu danh ngôn đã bảo:
- Hãy cho tình yêu vào máy cán, nếu nó tiết ra chất hy sinh, thì đó là một tình
yêu thức thiệt, bằng không thì chỉ là một tình yêu thứ dổm mà thôi.
Sự hy sinh phải là nền tảng căn bản, trên đó tình yêu được xây dựng, cho dù sóng
gió cuộc đời có phũ phàng, cũng không thể làm cho nó bị lay chuyễn. Hy vinh và
tình yêu luôn bổ túc lẫn cho nhau: hy sinh sẽ làm cho tình yêu trở nên tinh ròng
và tình yêu tinh ròng sẽ giúp chúng ta dễ dàng chấp nhận hy sinh.
Thánh Gioan đã định nghĩa: Thiên Chúa là tình yêu. Ngài chính là tình yêu tuyệt
hảo nhất, khuôn mẩu cho mọi tình yêu của chúng ta. Và như vậy, chắc chắn sự hy
sinh Ngài dành cho chúng ta cũng thật lớn lao.
Sự hy sinh ấy bắt đầu từ nguyên thủy. Khi tạo dựng nên trời và đất, Ngài đã một
phần nào đặt mình vào sự giới hạn của không gian và thời gian. Thế nhưng, Ngài
đã nhận được những gì, nếu không phải là sự phản bội của loài người, một tạo vật
đã được Ngài dựng nên theo hình ảnh của Ngài.
Tuy nhiên, dù con người có phản bội, Ngài cũng đã không bỏ rơi con người trong
án phạt của sự chết, trái lại Ngài đã đưa ra chương trình cứu độ và thực hiện
chương trình ấy trong dòng thời gian, bằng cách sai Con Một Ngài xuống thế để
cứu chuộc chúng ta.
Giả như bây giờ xảy ra một cuộc hỏa hoạn, hẳn chúng ta sẽ ca tụng hành vi can
đảm của người đã dám coi thường cái chết, nảy vào vùng lửa cháy để cứu thoát một
em bé nào đó. Chúa Giêsu cũng vậy, Ngài đã hy sinh vì chúng ta và đã đổ ra cho
đến giọt máu cuối cùng trên thập giá, như lời Ngài đã phán:
- Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu.
Hơn thế nữa, Ngài lãi còn trao ban cho chúng ta Mình và Máu thánh Ngài làm của
ăn nuôi sống linh hồn chúng ta và ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Vì
vậy, chúng ta có thể nói được rằng bí tích Thánh Thể chính là bí tích của tình
yêu Thiên Chúa.
Hẳn rằng nhiều người trong chúng ta đã nghe nói đến nạn đói năm Ất Dậu 1945 tại
miền Bắc. Đó là một nạn đói thật khủng khiếp, giết hại gần hai triêu người.
Có hai mẹ con người kia cũng lâm vào cảnh tang thương ấy và nằm hấp hối chờ chết
bên vệ đường. Người mẹ trước khi nhắm mắt, đã không thể nào cầm lòng được trước
tiếng khóc của đứa con thiếu sữa. Bởi đó, bà đã làm một hành động táo bạo, đó là
cắn đứt ngón tay trỏ, để đứa con được bú những giọt máu cuối cùng của mình thay
cho dòng sữa đã cạn kiệt, với hy vọng nó sẽ được cứu sống.
Câu chuyện cảm động ấy không phải chỉ xảy ra một lần, nhưng nó còn xảy ra mỗi
ngày trong bí tích Thánh Thể.
Thực vậy, trước khi ra đi chịu chết, Chúa Giêsu đã trối lại cho chúng ta Mình
Máu thánh Ngài làm lương thực nuôi sống linh hồn chúng ta, như lời Ngài đã xác
quyết:
- Thịt Ta thật là của ăn và Máu Ta thật là của uống. Ai ăn Thịt Ta và uống Máu
Ta thì sẽ được sống đời đời.
Chính nhờ của ăn thần linh này, chúng ta được kết hiệp mật thiết với Chúa, được
trở nên giống Chúa và được chia sẻ sự sống ân tình với Ngài.
Vì thế, hãy siêng năng tham dự thánh lễ và hãy sốt sắng rước lể mỗi khi có thể,
để đáp trả tình yêu thương vô biên Chúa đã dành cho mỗi người chúng ta trong bí
tích Thánh Thể.
13. Bánh
Trong sách Giáo lý Công giáo số 1358, Giáo Hội tóm lược ý nghĩa của Bí tích
Thánh Thể vào những điểm chính như sau:
1. Thánh Thể là sự cảm tạ và ngợi khen Chúa Cha: Thánh Thể là lời chúc tụng để
Giáo Hội bày tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa vì tất cả những ơn lành Ngài đã thực
hiện qua việc sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa nhân loại. Ý nghĩa trước hết của
thánh lễ là “Lễ Tạ Ơn” Thiên Chúa. Câu chuyện kể về một phụ nữ thường xuyên mang
theo mình cuốn sách mỏng. Chị đặt tên cho nó là cuốn sách ghi chép tiểu sử cuộc
đời. Chị thường chia sẻ với bạn bè rằng nó chẳng mất nhiều thì giờ để đọc, vì
cuốn sách chỉ có ba trang giấy. Lại chẳng có một chữ nào được viết trên đó cả.
Trang đầu tiên màu đen. Chị nói rằng nó đại diện cho các tội lỗi xưa nay của
chị. Trang thứ hai màu đỏ, nó biểu tượng cho máu Chúa Giêsu đã đổ ra vì tội lỗi
của chị. Trang thứ ba màu trắng, đại diện cho chính chị sau khi đã được lau sạch
trong máu của Chúa Giêsu Kitô, Người đã làm cho chị trở nên trắng hơn tuyết.
2. Thánh Thể tưởng niệm sự hy sinh của Chúa Giêsu: Một câu chuyện có thật gợi
lên sự hy sinh cao cả của Chúa Kitô được những tù binh người Anh bị lính Nhật
giam giữ trên bờ sông Kwai kể lại như sau: Một người lính Anh Quốc của trung
đoàn Argyll bị lính Nhật bắt giam phải đi làm lao động khổ sai xây dựng đường
rầy xe lửa. Như thường lệ, sau mỗi ngày lao động, tất cả những dụng cụ làm việc
phải được kiểm kê. Ngay khi một nhóm tù binh vừa trao nộp dụng cụ xong, sắp sửa
trở về trại, thì người lính Nhật canh giữ la lên rằng có một cái xẻng bị mất.
Anh lính quả quyết rằng một người nào đó đã ăn cắp và bán cho người Thái. Cả
nhóm tù binh phải tập họp lại. Anh lính Nhật bước tới bước lui trước mặt từng
người tù, anh phô trương, nộ nạt, sỉ vả họ vì hành động xấu xa và vô ơn đối với
hoàng đế. Đến lúc phát cáu, hắn nổi giận, và la hét. Hắn yêu cầu thủ phạm phải
bước ra khỏi hàng ngũ chấp nhận hình phạt. Nhưng chẳng có ai động đậy. Tên lính
Nhật lại càng nổi cơn điên lên cao độ hơn nữa. Hắn hét lên: “Tất cả phải chết!
Chết hết! Chết hết!”.
Để chứng tỏ điều hắn nói là thật, hắn lên cò súng, kê báng súng lên vai và chĩa
nòng súng vào từng người một, sẵn sàng bắn từ đầu cho đến cuối. Vào lúc đó
Argyll bước tới, đứng yên và nói: “Tôi đã làm điều đó”. Tên lính Nhật tuôn ra
tất cả sự thù hận, hắn đấm đá túi bụi vào Argyll. Tuy nhiên anh vẫn đứng lặng
thinh với khuôn mặt đầy máu me đang chảy xuống. Sự yên lặng của anh đã khiêu
khích sự phẫn nộ của tên lính Nhật lên tột độ. Hắn nắm lấy cây súng trường, đưa
lên cao khỏi đầu, và với một tiếng tru lên như chó, hắn bắn vào đầu Argyll.
Argyll tung người lên, rơi xuống đất, rồi nằm yên bất động. Mặc dù rõ ràng rằng
người tù đã chết, nhưng tên lính Nhật vẫn tiếp tục đánh anh cho đến khi hắn kiệt
sức mới thôi! Những người tù khổ sai đã lãnh xác người bạn mình, vác những dụng
cụ lao động trên vai, bước về trại. Khi những dụng cụ lao động được đếm lại một
lần nữa ở đồn lính canh, đã không có cái xẻng nào bị mất cả. Tất cả dụng cụ lao
động đều đầy đủ!
Thánh Thể là sự tưởng niệm cuộc tử nạn và Phục sinh của Chúa Kitô. Theo ý nghĩa
của Thánh Kinh “tưởng niệm” không chỉ có nghĩa là nhớ lại những biến cố của quá
khứ, nhưng còn có nghĩa công bố những kỳ công mà Thiên Chúa đã thực hiện cho
loài người. Trong Tân Ước từ “tưởng niệm” còn có nghĩa là sự tái diễn có tính
cách bí tích, làm cho trở thành hiện tại sự hy sinh của Chúa Kitô như Công đồng
Vatican II đã nói: “Tất cả mỗi khi hy lễ thập giá mà Chúa Kitô, lễ Vượt Qua của
chúng ta, được hiến tế trên bàn thờ, thì công cuộc ơn cứu chuộc của chúng ta
được thực hiện”.
3. Thánh Thể là sự hiện diện của Chúa Kitô: Nhờ quyền năng của Lời Ngài và của
Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu hiện diện trong Giáo Hội bằng nhiều cách: trong việc
cầu nguyện của Giáo Hội, nơi những người nghèo khó, nơi các bệnh nhân, các tù
nhân, trong bí tích của Ngài, trong hy lễ Thánh Thể, và nơi con người của thừa
tác viên. Đặc biệt nhất là Ngài hiện diện dưới hình bánh và hình rượu trong Bí
tích Thánh Thể. Đó là ngày lễ Phục sinh ở trong tù. Có chừng hơn 10.000 tù nhân
chính trị bị giam giữ bởi một chế độ tàn bạo và áp bức. Một nhóm tù nhân Kitô
hữu muốn cử hành Bí tích Thánh Thể, nhưng họ không có bánh lễ, không có rượu
nho, không có chén thánh, cũng chẳng có sách lễ, không có Thánh Kinh, và không
có cả linh mục nữa. Những tù nhân không phải là Kitô giáo cũng nhiệt tình giúp
đỡ: “Chúng tôi sẽ giúp đỡ các anh. Chúng tôi sẽ nói chuyện rì rào rất êm ái để
quý vị có thể gặp nhau mà không lôi kéo sự chú ý của các tên canh tù”. Một trong
những tù nhân Kitô hữu lên tiếng góp ý với đồng đạo: “Chúng ta không có bánh lễ,
cũng chẳng có lấy một giọt rượu nho, nhưng chúng ta sẽ cử hành như thể chúng ta
có tất cả”. Và người tù nhân Kitô hữu đó bắt đầu hướng dẫn mọi người tham dự
thánh lễ qua các nghi thức phụng vụ. Mọi người đều ngạc nhiên vì anh nhớ từng
lời, từng kinh đã nghe được qua bao nhiêu thánh lễ ngày Chúa nhật từ khi còn bé.
Khi đọc đến những lời của Chúa Giêsu đã nói trong bữa Tiệc Ly, anh quay sang
người bạn tù bên cạnh mình. Rồi nắm lấy hai bàn tay mà nói: “Đây là mình ta sẽ
bị nộp vì các con”. Và sau đó tất cả mọi người trong nhóm đi một vòng tròn, từng
người một, mỗi người quay sang người bên cạnh, mở rộng đôi bàn tay và lập lại
những lời của Chúa Giêsu: “Đây là mình ta sẽ bị nộp vì các con”.
“Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” là một mệnh lệnh được thi hành không chỉ
trong thánh lễ với linh mục thừa tác viên chính thức của Giáo Hội, nhưng còn
được sống thánh lễ và cử hành bằng chính đời sống của các Kitô hữu nữa. Thánh
Inhaxiô thành Antiokia đã nói: “Thánh Thể là linh dược đem lại sự bất tử, một
phương thuốc diệt trừ sự chết”. Đây chính là bảo chứng của Vương Quốc tương lai,
sự sống đời đời như lời Chúa phán hôm nay: “Đây là bánh từ trời xuống… Ai ăn
bánh này, sẽ được sống muôn đời”.
14. Thánh Thể
Trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu cầm bánh trong tay và nói trước mặt các môn đệ:
“Đây là Mình Thầy”, lập tức mọi người hiểu rằng tấm bánh kia là thân thể Chúa,
nghĩa là tấm bánh kia, bên ngoài có hình thù, mầu sắc, hương vị của bánh nhưng
bản thể của bánh đã biến sang bản thể của Thiên Chúa. Làm sao có thể như thế
được? Đối với Thiên Chúa thì không thành vấn đề, bởi vì Thiên Chúa đã từng làm
cho có manna đầy tràn ở trong hoang địa, và nước trở thành rượu ngon ở tiệc cưới
Cana, thì việc biến bánh ra Mình Chúa đối với Chúa là chuyện dễ dàng, dễ dàng
đến độ Ngài chỉ cần một lời nói “Đây là Mình Thầy”. Có ai trong chúng ta dám nói
tôi là thế này tôi là thế nọ không? Thí dụ: “Tôi là ánh sáng”. Chúng ta chỉ có
thể nói: “Tôi có ánh sáng” hay “tôi chế ra ánh sáng La-de”, chứ không ai có thể
nói: “Tôi là ánh sáng”. Chỉ có Thiên Chúa, Đấng tạo dựng ra ánh sáng, mới có nền
tảng mà tuyên bố “Tôi là ánh sáng”. Cho nên, khi Chúa nói: “Đây là Mình Thầy” là
một câu nói quả quyết, một câu nói quả quyết sự đồng nhất.
Một số người chối Bí tích Thánh Thể đã cho rằng: câu Chúa nói: “Đây là Mình
Thầy” chỉ có ý nghĩa tượng trưng, ám chỉ một việc khác. Chúng ta có thể trả lời
như sau: Để có ý nghĩa tượng trưng, phải có một trong bốn ý sau đây: Thứ nhất,
một cái gì tượng trưng rõ ràng, chẳng hạn khi chúng ta chỉ vào pho tượng thánh
Giuse mà nói: “Đây là thánh Giuse”. Thứ hai, một kiểu nói dụ ngôn, chẳng hạn như
hạt giống gieo là lời Chúa. Thứ ba, một ý nghĩa tượng trưng tự nó, chẳng hạn như
tre trúc tượng trưng cho lòng ngay thẳng, bông huệ tượng trưng cho sự thanh
khiết. Thứ tư, một bản văn ám chỉ tới một chuyện khác, chẳng hạn Isaac ám chỉ
Chúa Giêsu. Lời truyền phép của Chúa Giêsu không ở trong bốn trường hợp đó. Tự
bản chất và công dụng của bánh không bao giờ ám chỉ đến thân thể. Chúa cũng
không cắt nghĩa gì thêm, vì quá rõ ràng, đến nỗi người Do Thái lấy làm chướng
tai, không nghe được và bỏ đi. Trong Cựu Ước cũng như Tân Ước không bao giờ dùng
tấm bánh để ám chỉ về người ta, cho nên, câu Chúa nói “Đây là Mình Thầy” phải
hiểu là một chân lý quyền năng của Chúa. Như vậy, câu Chúa nói “Đây là Mình
Thầy” là Chúa lập Bí tích Thánh Thể. Đây là điều chắc chắn, là chân lý tuyệt
đối, nhắc nhở chúng ta những điều quan trọng sau đây:
Thứ nhất, Chúa Kitô hiện diện thật sự trong phép thánh Thể. Chúa Kitô ở trong
phép Thánh Thể là Chúa Kitô vinh hiển, nhân tính Ngài hiện diện trong bí tích đó
không còn đau khổ, buồn phiền, cô đơn nữa. Những kiểu nói Ngài cô đơn, vắng lặng
trong nhà tạm chỉ là để nhắc nhở thái độ dễ vô ơn, thờ ơ của chúng ta đối với
Chúa.
Thứ hai, Chúa Kitô hiện diện trong phép Thánh Thể là trạng thái hết sức khiêm hạ
vì thương yêu loài người. Chúa âm thầm tự trở nên một tù nhân giữa loài người.
Phải có một tình yêu cao độ chúng ta mới hiểu được sự ở lại trong khiêm hạ này.
Cũng trong sự khiêm hạ âm thầm này mà có biết bao phạm thượng, lộng ngôn xúc
phạm đến Chúa qua bao thế hệ. Đó cũng là lý do nữa nhắc nhở chúng ta thêm lòng
kính mến bí tích tình yêu tột đỉnh này.
Thứ ba, Chúa Kitô với hai bản tính đều ở trong bánh và rượu. Ở mỗi hình thái đều
có đủ Chúa Kitô thật. Nhưng chúng ta nên nhớ: Chúa Kitô ở trong hình thái bánh
rượu không còn lệ thuộc vào không gian, thời gian hay trương độ, trọng lượng như
xác thịt người phàm nữa. Ngài ngự trong hình bánh rượu, Ngài nghe, biết, thấy
chúng ta cầu nguyện, không bằng con mắt xác thịt như chúng ta mà bằng thần tính
của Thiên Chúa. Cho nên, chúng ta hãy siêng năng đến cầu nguyện với Chúa trong
Thánh Thể.
Chúng ta hãy nhớ và thực hành hai điều sau: Thứ nhất, mỗi khi tham dự thánh lễ,
chúng ta hãy cố gắng rước lễ, bởi vì chả lẽ đi dự tiệc mà lại không ăn tiệc?
Chúng ta phải chuẩn bị chu đáo để rước lễ. Nhưng cũng đừng vì một đôi khuyết
điểm hay yếu đuối nhỏ mà chúng ta nghĩ rằng mình không xứng đáng rước Chúa. Thật
ra khi rước lễ, tình yêu chúng ta dành cho Chúa Giêsu đủ để Ngài tha thứ những
tội nhẹ và khuyết điểm của chúng ta. Thứ hai, ngoài thánh lễ, Chúa vẫn ở với
chúng ta trong nhà tạm. Vì thế, mỗi khi vào nhà thờ chúng ta hãy ý thức sự hiện
diện của Chúa, chúng ta cúi đầu hay bái gối với một lòng biết ơn và kính trọng,
rồi chúng ta bắt đầu cầu nguyện với một lòng tin sâu xa: Chúa Kitô đang hiện
diện thực sự trước chúng ta, đang lắng nghe chúng ta, đang muốn ban ơn cho chúng
ta.
15. Chúa Giêsu bồng ẵm tôi
Một trong những truyện hay của cuộc đời Chúa Giêsu là truyện Chúa bồng ẵm một em
bé. Các tông đồ tranh cãi xem ai là người cao cả nhất. Chúa Giêsu bảo các ông:
“Ai muốn ở bậc nhất thì phải làm người rốt hết và làm tôi tớ mọi người”. Rồi
Chúa dắt một em bé lại và để em đứng giữa các ông. Chúa bồng ẫm em và nói: “Ai
đón nhận một trẻ nhỏ như em bé này vì danh Ta là đón nhận Ta, và ai đón tiếp Ta,
thì không phải đón tiếp Ta, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Ta” (Mc 9,36).
Theo truyền tụng thì em bé này sau trở nên thánh Ignatuiô thành Antiochia, Ngài
đã hiến dâng mạng sống vì Chúa Kitô năm 107. Khi còn là thiếu niên, Ignatio
thường dẫn bạn bè tới nơi mà Chúa Giêsu đã bồng ẵm cậu và bảo bạn bè: “Các bạn
coi đó. Đây là chỗ Chúa Giêsu đã bồng ẵm tôi”.
Nếu bạn muốn, bạn có thể coi đó là câu chuyện tưởng tượng của thời trung cổ,
nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng Chúa Giêsu đã bồng ẵm một em bé. Sự kiện đó
hôm nay làm nổi bật tư tưởng của tôi, nghĩa là trong sự Hiệp lễ, chúng ta không
chỉ ôm ẵm Chúa Giêsu, nhưng chính Ngài cũng ôm ẵm chúng ta.
Có lẽ không bao giờ bạn nghĩ đến sự Hiệp lễ trong cách này. Chúng ta nói trực
riếp: “Tôi đón nhận Chúa Giêsu trong sự hiệp lễ... Chúa Giêsu ngự vào trong lòng
tôi”. Chúng ta nói về những hiệp lễ như là ôm ẵm Chúa. Nhưng hiệp lễ cũng có
nghĩa là Chúa ôm ẵm chúng ta. Chúa Giêsu đón nhận chúng ta vào lòng Ngài cách
đặc biệt. Không chỉ là Chúa Giêsu ngự trong chúng ta, mà chúng ta cũng ở trong
Chúa Giêsu. Đó là ý nghĩa của điều Chúa nói với chúng ta trong Tin Mừng hôm nay:
“Ai ăn Thịt ta và uống Máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy”. Chúng ta có
thể nói như thánh Ignatiô: “Đây là nơi Chúa Giêsu bồng ẵm tôi”.
Thánh Cyrilo thành Alexandries so sánh sự hiệp nhất này với hai miếng sáp ong
hòa lẫn với nhau. Thánh Têrêxa thành Lisieux đã diễn tả sự hiệp lễ lần đầu của
Ngài như là sự hoà tan với Chúa Kitô.
Bạn hãy tưởng tượng một em bé chạy lại gặp cha nó. Nó giang cánh tay nhỏ bé
quàng vào cổ cha nó. Cố sức ôm chặt lấy cha nó. Nhưng người cha bồng lấy đứa con
trong vòng tay to khỏe, ôm ấp đấ yêu thương. Sự hiệp lễ cũng phần nào giống như
thế. Chúng ta ôm ẫm Chúa Kitô. Chúng ta đón rước Ngài ngự vào lòng ta. Chúa
Giêsu ôm ẫm ta, đưa ta vào lòng Ngài.
Bạn hãy suy nghĩ điều này và bạn bắt đầu nhận thức rằng sự quan trọng không phải
là tình yêu, lòng khát khao hay những lời cầu nguyện của chúng ta, mặc dầu tất
cả cần phải có. Sự quan trọng nhất là tình yêu vô biên của Chúa Giêsu. Ngài ước
mong ôm ẵm chúng ta, chia sẻ chính đời sống Ngài cho chúng ta. Ngài muốn chúng
ta ở lại trong Ngài như chúng ta muốn Ngài ở lại trong chúng ta.
Sự thật kỳ lạ này chúng ta cử hành hôm nay, ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô,
tôn vinh Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Trong sự buồn thảm của tuần thánh, chúng ta
đã làm mới lại ngày thứ năm thánh đầu tiên, khi Chúa Giêsu trao ban chính Ngài
cho các tông đồ, và các ông được dâng chính mình cho Ngài. Sự thật vui mừng lớn
lao quá, chúng ta muốn cử hành một cách dặc biệt trong một ngày đặc biệt, Mình
Máu Thánh Chúa Kitô. Chúng ta ước ao làm mới lại ước vọng được ôm ẵm Chúa Kitô
và được Ngài ôm ẵm chúng ta.
Xin Chúa chúc lành cho các bạn.
16. Tặng phẩm thần linh - Lm Giuse Nguyễn Hữu An
Phúc Âm kể lại: Đang khi ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra trao
cho các môn đệ và nói: Này là Mình Thầy, các con hãy cầm lấy mà ăn. Rồi Người
cầm lấy chén rượu và nói: Này là Máu Thầy, các con hãy cầm lấy mà uống. (Mt 26,
26- 29; Lc, 22, 14- 20). Chúa đã lập Bí Tích Thánh Thể và Chúa dặn dò các môn
đệ: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.
Tiệc Thánh Thể này được chính Chúa Giêsu tiên báo trong tiệc cưới Cana, được hứa
ban cho dân ở Caphanaum, được thiết lập trong Tiệc Ly và đã được chính Chúa cử
hành đầu tiên tại làng quê Emmau. Bốn khung cảnh này hòa quyện đan kết với nhau
thật tuyệt đẹp trong ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô.
Thánh Thể là sự sống của Giáo Hội, là lương thực thiêng liêng cho đời sống và là
bảo đảm cho hạnh phúc trường cửu của người tín hữu chúng ta.
Thánh Thể là mối hiệp nhất giữa Thiên Chúa với con người, và giữa con người với
nhau.
Thánh Thể chính là Tặng Phẩm Thần Linh mà Thiên Chúa trao cho nhân loại.
Lịch sử cứu độ là lịch sử hồng ân và là lịch sử tình yêu tự hiến của Thiên Chúa.
Cao điểm của lịch sử này là Thập Giá Đức Kitô. Thập Giá là tột đỉnh hy sinh của
Thiên Chúa. Thập Giá biểu lộ tình yêu điên rồ của Thiên Chúa. Thập Giá cũng là
tột đỉnh hy sinh của Đức Kitô, Đấng đã hạ mình vâng phục Chúa Cha cho đến chết
và chết trên Thập Giá. Thập giá là cao điểm tình yêu tự hiến của Chúa Kitô.
Tình yêu sâu thẳm và khôn dò của Thiên Chúa biểu lộ nơi Thập Giá Đức Kitô là
tình yêu vượt thời gian. Tình yêu tự hiến của Đức Kitô biểu lộ bằng cái chết
cũng vượt thời gian. Chúa Kitô chỉ tự hiến một lần, tự hiến trọn vẹn thay cho
mọi lần. Chúa đã biểu lộ điều này trong bữa Tiệc Ly. Từ đó, Bí Tích Thánh Thể là
nguồn mạch của đời sống Giáo Hội, là trọng tâm và là tột đỉnh của sinh hoạt Giáo
Hội. Thánh Thể làm nên Giáo Hội. Không có Thánh Thể thì không có Giáo Hội. Giáo
hội là thân mình gồm nhiều người ăn cùng một bánh là thân mình Đức Kitô (1
Cor10, 17).
Giáo hội luôn định tín rằng: dù chỉ một miếng bánh nhỏ, khi đã được Truyền Phép,
vẫn chứa đựng cả thân xác, linh hồn và thần tính của Đức Kitô. Chúng ta có Đức
Kitô nguyên vẹn và cụ thể. Chính Chúa Thánh Thần Kitô hóa bánh rượu, làm cho
bánh rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô. Khi linh mục, thừa tác viên của Giáo
hội, thay mặt Chúa Kitô đọc Lời Truyền Phép. Lời Truyền Phép mà linh mục đọc
không phải là một câu thần chú có một ma lực biến bánh và rượu thành Mình và Máu
Chúa Kitô, giống như linh mục có quyền trên Chúa Kitô, khiến Chúa đến thì Ngài
phải đến. Lời Truyền Phép chính là Lời Chúa Kitô, Lời mà Chúa Kitô muốn nói qua
môi miệng của linh mục. Chúa Kitô đã chọn một số người để họ lập lại y nguyên
Lời Truyền Phép của Ngài. Chính Chúa Thánh Thần lấp đầy "khoảng cách" giữa linh
mục và Đức Kitô, khiến Lời Truyền Phép trở nên "công hiệu", làm cho nội dung của
Lời trở thành hiện thực. Sau Truyền Phép bánh không còn là bánh mà là Mình Thánh
Chúa, rượu không còn là rượu mà là Máu Thánh Chúa. Đã có một sự thay đổi, sự
thay đổi ấy là thay đổi bản thể hay "biến thể". Đây là công việc của Chúa Thánh
Thần, chứ không phải là công việc của người phàm, dù người ấy là linh mục. Vì ý
thức điều đó, Giáo hội thiết tha khẩn cầu trước lúc linh mục Truyền Phép:
"Chúng con nài xin Cha đổ ơn Thánh Thần xuống mà thánh hóa của lễ này, để biến
thành Mình và Máu của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con" (Kinh Nguyện Thánh Thể
II).
"Lạy Cha, chúng con tha thiết nài xin Cha, cũng nhờ Chúa Thánh Thần, mà thánh
hóa của lễ chúng con dâng hiến Cha đây, để trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô,
con Cha, Chúa chúng con" (Kinh Nguyện Thánh Thể III).
"Lạy Cha, xin cho Chúa Thánh Thần đoái thương thánh hóa những của lễ này, để
biến thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con" (Kinh Nguyện Thánh Thể
IV).
Chúa Thánh Thần làm cho Chúa Kitô hiện diện thực sự giữa chúng ta, trong hình
bánh và rượu. Điều đó không có nghĩa là Đức Kitô không hiện diện thực sự bằng
những cách khác, như hiện diện qua lời Kinh Thánh, hiện diện trong Giáo hội,
hiện diện nơi những người nghèo khổ, hiện diện giữa hai hoặc ba người họp nhau
cầu nguyện (Mt 18, 20). Tất cả những cách hiện diện đó đều là hiện diện thực. Có
điều khác là: Đức Kitô không đồng hóa với lời Kinh thánh, Lời Kinh thánh được
đọc lên không là bản thân Đức Kitô; Đức Kitô cũng không đồng hóa với người
nghèo, vì người nghèo không là bản thân Đức Kitô, dù Ngài đã nói: "Ta đói các
ngươi cho ăn, Ta khát các ngươi cho uống..." (Mt 25, 35- 36). Trái lại nơi Bí
Tích Thánh Thể, sau Lời Truyền Phép, bánh và rượu là Đức Kitô, là bản thân Ngài,
là bản thể Ngài, là Mình và Máu Ngài. Trong Bí Tích Thánh Thể, sự hiện diện của
Đức Kitô có một chiều sâu hữu thể mà không nơi nào có. Sự hiện diện đích thực và
đặc biệt này của Đức Kitô là kết quả của một sự thay đổi mà tác động thay đổi
chính là công việc của Chúa Thánh Thần làm khi linh mục đọc Lời Truyền Phép. (x
trang Web: simonhoadalat.com, Mục Thần học, Tặng phẩm Thần Linh, Đức Cha Bùi Văn
Đọc)
Bí Tích Thánh Thể là sáng kiến của tình yêu. Tình yêu luôn có những sáng kiến
bất ngờ và kỳ diệu. Thiên Chúa đã yêu thế gian nỗi ban chính Con Một... (Ga 3,
16) và Con Một là Đức Giêsu đã yêu cho đến cùng, đã lập Bí tích Thánh Thể để ở
với con người luôn mãi.
Bông lúa và trái nho là những sản phẩm thông thường và cần thiết nhất mà ruộng
đất cống hiến cho con người. Bánh và rượu có thể tầm thường, nhưng lại là những
gì gần gũi và cần thiết nhất cho cuộc sống con người hàng ngày. Chúa Giêsu đã
muốn trở nên những gì cần thiết và gần gũi đó. Người muốn bánh và rượu trở nên
thịt máu của Người. Từ bông lúa bị nghiền nát, từ chùm nho bị ép, nghĩa là từ
cuộc khổ nạn và cái chết trên Thập Giá, Đức Giêsu đã trở thành tấm bánh, thành
ly rượu đem lại sự sống đời đời cho nhân loại. Vật chất đã trở thành biểu tượng
cho sự hiện diện thần linh.
Mình và Máu Chúa Kitô là hồng ân vô giá, chúng ta đón nhận để có sự sống thần
linh của Chúa. Tham dự Thánh Lễ tích cực, trọn vẹn là cách tốt nhất thể hiện
lòng yêu mến Chúa. Thỉnh thoảng trong ngày, trong tuần, chúng ta nên quỳ gối
trước Thánh Thể, chúng ta có thể học được nhiều điều từ Bí Tích Tình Yêu.
17. Kẻ ăn Tôi sẽ sống nhờ Tôi
Suy Niệm
"Lúc đó tôi biết thế nào tôi cũng chết nhưng tôi muốn con tôi được sống". Đó là
lời của bà Susanna sau khi được cứu trong trận động đất ở Ácmêni vào tháng
12-1987.
Trong số hàng ngàn người bị vùi lấp dưới đống gạch, có hai mẹ con bà Susanna may
mắn còn sống sót. Cô con gái bốn tuổi đòi uống nước. Tìm đâu ra nước khi hai mẹ
con không có lối ra? Tình mẫu tử đã gợi lên cho bà một ý nghĩ táo bạo, đó là
rạch ngón tay mình chảy máu để cho con mút. Đứa bé đã đỡ khát nhờ máu người mẹ.
Nó đã sống cho đến khi cả hai mẹ con được cứu. Câu truyện trên giúp ta hiều phần
nào bí tích Thánh Thể.
Đức Giêsu đã chết để chúng ta được sống. Ngài chấp nhận chịu đổ máu qua cái chết
thập giá, và Ngài muốn máu Ngài trở nên thức uống cho chúng ta.
Trong các nhà thờ, vào dịp lễ Giáng sinh, thường có những người ngoài Kitô giáo
đến dự lễ. Cũng có ít người tò mò lên "ăn bánh thánh". Họ ngạc nhiên vì tấm bánh
mỏng manh, nhạt nhẽo. Nhưng họ sẽ ngạc nhiên hơn nhiều nếu chúng ta bảo họ: "Ăn
tấm bánh đó là ăn thịt Chúa, uống chén rượu đó là uống máu Chúa". Thật là kinh
khủng, làm sao có chuyện như vậy?
Đây là mầu nhiệm đức tin, không dễ giải thích cho người ngoài.
Tất cả bắt đầu từ ước muốn lạ lùng của Đức Giêsu. Ngài muốn nuôi nhân loại bằng
chính con người Ngài. Ngài muốn trở thành đồ ăn thức uống cho nhân loại: "Các
con hãy cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy. Các con hãy cầm lấy mà uống, đây là Máu
Thầy."
Mình và Máu tượng trưng toàn thể con người Đức Giêsu. Nên khi rước lễ, ta không
chỉ rước thịt mình Ngài, mà rước lấy cả con người Ngài dưới dạng tấm bánh.
Rước lễ là gắn bó với một ngôi vị: "Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì ở lại
trong tôi và tôi ở lại trong người ấy (c.56).
Rước lễ không phải là đón nhận một xác chết, nhưng là gặp gỡ Đức Giêsu đã chết
và nay đã phục sinh. "Như tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, kẻ ăn tôi cũng sẽ sống
nhờ tôi như vậy" (c.57).
Rước lễ là đón lấy sự sống từ Đấng đang sống, cũng là sự sống duy nhất bắt nguồn
từ Chúa Cha.
Hôm nay, Đức Giêsu phục sinh có một lối hiện diện mới mẻ. Ngài không hiện diện
dưới dạng một con người, nhưng dưới dạng đồ ăn, đồ uống.
Như thế cả vật chất bất động cũng được nâng lên, cả lao công của con người cũng
được thánh hiến. Vật chất trở thành biểu tượng cho sự hiện diện thần linh. Vật
chất có chỗ trong thế giới của Thiên Chúa.
Ước gì thế giới vật chất ở quanh ta cũng nên thánh, nhờ được chia sẻ trong yêu
thương.
Gợi Ý Chia Sẻ
Bài Tin Mừng hôm nay có 10 từ "sống". Bí tích Thánh Thể là bí tích ban sự sống.
Bạn có thấy thánh lễ đem lại sức sống cho bạn không? Nếu không, tại sao?
Bạn nghĩ gì về thái độ của bạn khi rước lễ? Đó có phải là một cuộc gặp gỡ thân
tình không? Bạn có chuẩn bị gì khi rước lễ? Bạn có dành những giây phút lặng lẽ
để tâm sự với Chúa sau rước lễ không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, có một ngọn đèn dầu gần Nhà Tạm, ngọn đèn đỏ mời con dừng bước
chân, và nhắc con về sự hiện diện của Chúa.
Con mong sự hiện diện ấy lan tỏa khắp nơi, để đâu đâu cũng thấy những ngọn đèn
đỏ.
Nơi xóm nghèo mùa mưa nhớp nháp, nơi lớp học tình thương lúc chiều tà, nơi những
trung tâm phục hồi nhân phẩm, nơi bảo sanh viện nâng niu sự sống của trẻ thơ,
nơi khách sạn năm sao, nơi quán bia đầu ngõ, nơi các tiệm cho mướn băng video,
nơi tình yêu trong ngần của đôi bạn trẻ...
Nhưng lạy Chúa, trước hết, xin cho đời con là một ngọn đèn, xin cho chúng con là
những ngọn đèn màu đỏ, mời người ta dừng lại, trầm tư, và gặp được Chúa.