Cv 2,1-11; 1 Cr 12,3b-7,12-13; Ga 20,19-23
Trong một lần giáo huấn, Đức Giêsu đã quả quyết với các Tông đồ: "Sự gì các
con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc. Sự gì các con cởi mở dưới đất,
trên trời cũng cởi mở" (Mt 18,18). Và hôm nay, sau ngày phục sinh, trong một
lần hiện ra với họ, Chúa Giêsu đã phán: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các
con tha tội cho ai thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai thì tội người
ấy bị cầm lại". (Gn 19, 22-23). Khi nói lên lời đó, Ngài chính thức thiết
lập Bí tích Giải tội, ủy thác cho Hội thánh quyền năng tha thứ và cầm buộc.
Quyền năng nầy không chỉ được trao ban cho các Tông đồ nhưng còn thông chuyển
đến các đấng kế vị là các Giám mục và những linh mục hiệp thông với các ngài.
Qua lời tuyên bố thiết lập Bí tích Giao hòa Chúa Giêsu muốn nói với các vị thừa
tác viên đầu tiên và những người kế nghiệp rằng: một khi dưới đất họ đọc lên lời
tha tội "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần" thì lập tức trên trời Ngài
sẽ chuẩn y, và dù tội con người có thẫm như máu đào cũng sẽ được biến đổi tinh
trắng như bông.
Trong Tông thư Reconciliation and Penance, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II
đã khẳng định: "Khơi dậy lòng sám hối và thay đổi tâm hồn nhân thế cùng trao
ban cho con người tặng phẩm giao hòa chính là sứ mạng đặc thù của Hội thánh khi
tiếp nối công trình cứu độ của Đấng Sáng Lập".
Có người đặt vấn đề: Tại sao lại phải đi xưng tội với một linh mục? Tới thẳng
với Chúa không được sao?
Lẽ dĩ nhiên Đức Giêsu có trăm muôn ngàn cách tha thứ tội lỗi con người, nhưng
phương cách Ngài "làm người" để cứu thế và "chọn con người" để thi hành quyền
năng tha tội là một ý định tỏ tường. Tuy nhiên, bên cạnh ý định của Thiên Chúa
cũng có đó một số lý do khiến cho việc xưng tội với một linh mục trở nên cần
thiết.
Catholicism and Life có chỉ ra những lý do như sau:
Thứ nhất, vì "có những tội được tha và có những tội bị cầm" nên hối nhân
phải xưng tội mình ra thì linh mục mới có thể xác định được tội nào được tha và
tội nào bị cầm.
Thứ hai, việc xưng tội với một linh mục sẽ giúp cho con người trở nên khiêm tốn.
Người ta dễ chừa tội hơn khi biết rằng nếu mình phạm, mình sẽ phải xưng.
Thứ ba, chắc chắn hối nhân sẽ đón nhận được ơn thánh hóa từ bí tích Hòa giải.
Nhưng trước đó, họ sẽ nhận được những lời khuyên hữu ích từ vị linh mục, giúp họ
thăng tiến hơn trên đường thiêng liêng.
Thêm vào đó, có không ít khuynh hướng nhiệm nhặt hay buông thả khiến cho có
người quá khắt khe, thấy điều chi cũng tội, hay có người qua lỏng lẻo đến nỗi
bao tội tày trời cũng cho là chẳng có gì ghê gớm. Thậm chí có khi còn biện minh
để lương tâm thấy tội nhẹ đi hay không còn tội lỗi gì nữa. Vì vậy, nếu không có
sự trợ giúp của vị linh mục làm sao người ta có thể quân bình với chính mình và
chân thành với Thiên Chúa được.
Cuối cùng, khi ban ơn tha tội, vị linh mục thay mặt Chúa sẽ bảo đảm ơn
tha thứ cho hối nhân. Đối với người đi "xưng thẳng" với Chúa, ai sẽ đoan
quyết cho điều đó? Chắc chắn không ai hết.
Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cảnh cáo những người cho mình không cần Bí
tích Giải tội như sau: "Thật là điên rồ và kiêu căng đối với những ai tự ý
coi thường phương thế trao ban ơn sủng và cứu thoát mà chính Chúa Giêsu thiết
lập, nhất là đối với những kẻ cho rằng không cần đến Bí tích Giải tội để được
tha tội".
Có nhiều người vì ý thức lệch lạc nên coi thường xưng tội, nhưng cũng có không
ít người vì đánh mất cảm thức về tội nên không còn thấy cần đi xưng tội nữa.
Thậm chí có người xấu hổ ngại ngùng khi phải thú nhận tội mình với kẻ khác. G.K.
Chesterton, một nhà văn trở lại Công giáo đã viết: "Không việc gì phải xấu hổ
về những dại dột của mình... Đã là con người không ai không có lỗi lầm, nhưng
lỗi lầm kinh khủng nhất của con người là cho mình không có lỗi". Thánh Gioan
Tông đồ viết thẳng thừng hơn: "Nếu ta nói: ta không có tội là ta tự lừa dối
mình, và sự thật không có trong ta" (1 Gn 1,8). Trái lại, "Nếu ta xưng
thú tội lỗi mình thì Người trung tín và công chính đủ để tha thứ tội lỗi cho
ta,và tẩy ta khỏi mọi bất chính" (1 Gn 1,9).
Một điều luôn gắn liền với Bí tích Giải tội là "ấn tòa" mà tất cả mọi linh mục
phải tuân giữ. Không một điều gì nghe trong toà mà cha giải tội lại được phép
nói ra cho người thứ ba, dù tính mạng của mình bị đe dọa hay an ninh quốc gia
được bảo toàn.
Lịch sử Giáo hội ghi nhận biết bao hình ảnh hào hùng của những con người dám lấy
máu đào bảo vệ đức tin, trong đó cũng có hình ảnh của những linh mục dám lấy
mạng sống bảo vệ "ấn tòa giải tội".
Cha Gioan Nepomucene là mẫu gương tiêu biểu trong thế kỷ 14. Ngài là cha giải
tội của Hoàng hậu Jane, nước Bohemia. Vua Wenceslaus là người đa nghi và ghen
tuông. Vì muốn biết Hoàng hậu đã làm điều chi thầm lén nên vua yêu cầu cha Gioan
thuật lại những gì nàng xưng ra với Ngài.
Tưởng rằng quyền lực và uy thế của mình có thể khui được ít nhiều bí mật nơi
miệng cha Gioan, nhưng vua đã lầm. Vị linh mục của Chúa nhất quyết không hé lộ
bất cứ điều gì. Kết quả, ngài bị nhốt vào hầm tối, và một đêm kia, bị nhận nước
cho đến chết.
Ba trăm năm sau, khi khai quật lăng mộ cha Gioan, những người hữu trách ngỡ
ngàng chứng kiến thân thể ngài mục hoàn toàn, ngoại trừ chiếc lưỡi vẫn nguyên
vẹn như lúc còn sống. Ngày nay, trên chỗ ngài bị giết người ta dựng lên một
tượng đài, phía dưới chân có khắc dòng chữ: "Nơi đây vị chứng nhân của Ấn toà
Giải tội đã nằm xuống".
Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã trao ban cho các Tông đồ món quà vô giá là Chúa
Thánh Thần và quyền năng tha tội. Sứ mạng của các ngài và những người kế vị sẽ
là việc làm nảy sinh hoa trái cho toàn nhân loại. Biết khiêm tốn mở lòng đón
nhận ơn tha thứ, con người sẽ tìm thấy bình an và sự sống đích thực, dù thần
chết có đang hăm he rình chờ. Biết tìm đến cùng tòa cáo giải, tâm hồn sẽ được
chữa lànhvà ngập tràn hân hoan.
NS Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp