VỀ TRANG LỄ TRỌNG
Lời Chúa: Xh. 34, 4b-6.8-9; 2Cr. 13, 11-13; Ga. 3, 16-18
MỤC LỤC
1. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
“Thiên Chúa đã yêu mến thế gian đến nỗi. ..": Công trình cứu rỗi được nối kết
với nguyên lý tối hậu của nó là tình yêu của Thiên Chúa đối với thế gian. Việc
sai phái Chúa Con, như là dấu tích tình yêu của Thiên Chúa, đã được lựa
4,9-10.16.19 làm nổi bật. Tư tưởng này, tiềm tàng trong Tin Mừng thứ tư, đã được
khai triển trong chương 13 và các chương kế tiếp.
“Vì Thiên Chúa không sai Con đến trong thế gian để xử án thế gian": Câu này xác
định mục đích sứ mệnh của Chúa Con đối với thế gian: không phải để xét xử, nhưng
để cứu rỗi thế gian (Ga 4,42; 1Ga 4,14). Nhưng tại sao Chúa Giêsu lại quả quyết
trong 9,39: “Chính để xét xử mà Ta đã đến trong thế gian”. Thưa điều Thiên Chúa
muốn là cứu rỗi thế gian; tuy nhiên việc Chúa Con đến nhất thiết gây nên quyết
định chọn lựa dứt khoát của con người, sự chọn lựa này làm nên việc xét xử.
Quyết định chính yếu ấy của tất cả đời người, chính là việc gắn bó vào "Con Một
của Thiên Chúa" (c.18) bằng đức tin, hay trái lại là sự chối từ không chịu tin.
Câu 18 dịch sát chữ là "Kẻ tin vào Người thì không bị án xử (trong các câu
17-18, BJ cả 3 lần đều dịch "luận phạt", trong lúc bản Hy lạp là "án xử"); kẻ
không tin thì đã bị “xét xử rồi". Án xử thành ra không tự Chúa Con mà đến, nhưng
tự thế gian đã không chịu đón nhận ơn cứu độ mà Chúa Kitô đem tới cho. Thế gian
khép lòng trước tình yêu của Chúa Cha tỏ hiện trong việc sai phái Chúa Con, nó
loại bỏ Đấng Trung gian duy nhất là Đấng có thể đưa nó đến sự sống. Thành ra, vì
ích kỷ, thế gian đã chọn lựa ở lại trong sự chết. Một án quyết sẽ có thể long
trọng công bố, xác nhận tình trạng này (x. cuộc phán xét cánh chung vào ngày
Quang lâm trong các Tin Mừng Nhất lãm) nhưng sẽ không thay đổi tình trạng đó
nữa.
KẾT LUẬN
Không được chần chừ lần lựa hoặc giả điếc làm ngơ trước mặc khải trực tiếp nhất,
hồng ân cứu độ cao quý nhất và tình yêu tuyệt đối này của Thiên Chúa. Vì hãy nhớ
rằng cái chết của Chúa Giêsu mặc cho mọi phản ứng của con người ý nghĩa cánh
chung đích thực của nó.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi có được là nhờ niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô.
Mọi giáo huấn về Thiên Chúa đều được chứa đựng trong con người của Chúa. Từ đó
việc tin vào Chúa Con đã hàm chứa việc tin vào Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, vào
Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì thế Tin Mừng đã nói: “Phàm ai tin vào Người thì không
phải hư đi nhưng được sự sống đời đời”. Sự kiện trong ngày lễ Thiên Chúa Ba
Ngôi, Giáo Hội chọn một bản văn có chủ ý nhấn mạnh tầm quan trọng của niềm tin
vào Chúa Giêsu Kitô, cho thấy khởi điểm lộ trình và mục đích của niềm tin đã
được bao hàm trong việc gắn bó sống động vào Chúa Kitô. Ai đến với Chúa Kitô thì
cũng đến với Chúa Cha và được như thế là nhờ ơn Chúa Thánh Thần.
2) Nhưng đây còn một vấn nạn khác mà Tin Mừng muốn trả lời: Thiên Chúa cứu thế
gian bằng cách nào? bằng cách sai Con của Ngài đến trong thế gian. Thế nhưng
ngày nay Chúa Kitô đến trong thế gian bằng con đường đặc biệt nào? Bằng Giáo
Hội. Do đó Giáo Hội có sứ mệnh làm cho Chúa Kitô hiện diện trong thế gian. Giáo
Hội phải thông đạt một sự hiện diện đích thực chứ không chỉ giảng dạy, đưa ra
học thuyết, giáo huấn mà thôi. Thiên Chúa Ba Ngôi đã tự trở nên gần gũi với nhân
loại trong con người Chúa Giêsu Kitô, Đấng được mặc khải trong Giáo Hội và nhờ
Giáo Hội.
3) Kẻ tin vào Chúa Giêsu đến nỗi sẵn sàng chia sẻ số phận tử nạn và phục sinh
của Người, thì được vào trong mầu nhiệm sống động của Thiên Chúa. Điều này giải
thích tại sao sứ điệp của các sứ đồ, ở thời đầu Giáo Hội, không phải là một bài
giáo lý về Thiên Chúa Ba Ngôi, nhưng là lời loan báo về Chúa Giêsu Kitô. Suốt
dòng lịch sử Giáo Hội, và nhất là qua các Công Đồng, Giáo Hội sẽ cố gắng công
thức hoá cho mình một tư tưởng về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhưng việc chính
của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội (trong mỗi người chúng ta) là làm sao cho
Giáo Hội trở thành và mãi mãi là kẻ tin vào Chúa Giêsu Kitô.
4) "Ai tin vào Con Người thì chẳng bị án xử; ai không tin thì đã bị án xử rồi vì
đã chẳng tin". Đây là nghịch lý của một sự tự do chỉ có thể chọn lựa giữa sự
sống và cái chết. Không có nhiều cách sống, nên không thể có sự chọn lựa giữa
nhiều giả thuyết khác nhau. Hoặc được tất cả hoặc mất tất cả. Tình yêu của Chúa
Cha biểu lộ trong Chúa Con và kích động trong ta nhờ sự hiện diện của Chúa Thánh
Thần, xem ra bi thảm vì có tính cách quyết định. Tình yêu không phải là cái gì
có thể chọn lựa tuỳ ý giữa bao cái khác. Nó là sự sống của con người. Sự tự do
mà Thiên Chúa ban cho con người là tiếng mời gọi diệu kỳ nhất, mời gọi đi đến
với tình yêu, đồng thời cũng là khả năng huỷ diệt nguy hiểm nhất. Nhiều kẻ đã sợ
tự do; có lẽ họ thích đừng phải đương đầu với một chọn lựa như thế, vì họ coi sự
chọn lựa đó dã man hơn là dịu dàng và tế nhị. Tuy nhiên, chính khi tự do yêu
thương mà con người thực sự là người. Nếu không có sự chọn lựa ấy (với nhiều
khía cạnh bi thảm của nó) thì con người chỉ còn là một người máy đã bị quy định
trước. Nhưng đối với ai lựa chọn theo Chúa Giêsu, đối với ai nhờ Chúa Thánh Thần
soi sáng, "đã tin vào Danh Con Một Thiên Chúa" thì thật hạnh phúc dường nào! Tất
cả trở thành bình an và vui sướng trong sự hiệp thông mà Chúa Thánh Thần đã thực
hiện.
2. Chúa Ba Ngôi
Người Đông phương chúng ta thường thích giữ im lặng trước những mầu nhiệm của vũ
trụ, của con người và nhất là của Thượng Đế.
Thực vậy, người Trung Hoa rất ít nói về trời, bởi vì họ cho rằng ngay cả những
thực tại trần thế này, chúng ta còn chưa hiểu biết được cho thấu đáo, phương chi
là những thực tại vô hình.
Người Ấn Độ thì có lẽ thích nói về Thượng Đế thật đấy, nhưng họ luôn tự nhắc nhở
cho mình rằng những điều chúng ta biết được về Thượng Đế, thì cũng chỉ là như
một chiếc lá giữa rừng cây bao la.
Trong khi đó, người Tây Phương, nhất là người Kitô hữu, có lẽ ít khiêm tốn hơn
những người Ấn Độ và Trung Hoa, trong vấn đề này. Thực vậy, chúng ta có biết bao
nhiêu sách vở viết về Thiên Chúa, biết bao nhiêu bài giảng bàn về Thiên Chúa và
biết bao nhiêu định nghĩa về những tín điều.
Thế nhưng, phải thành thật mà nói: Kể từ thời thánh Augustino cho đến ngày hôm
nay, chúng ta đã hiểu thêm được những gì về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi? Hay chúng ta
cũng giống như những người lạc vào rừng, càng đi xa, càng vào sâu, thì lại càng
cảm thấy mịt mù và tăm tối. Hoặc giống như người trong sa mạc, càng đi thì lại
càng cảm thấy chỉ có cát và cát mà thôi.
Bởi thế hôm nay, khi mừng kính mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, thái độ thích hợp nhất
đối với mỗi người chúng ta, đó là im lặng, khiêm tốn và thờ lạy.
Từ thái độ khiêm tốn và thờ lạy này, chúng ta đưa ra một cách thế để cảm nghiện
được mầu nhiệm này, đó là tình yêu. Thực vậy, chúng ta không thể biết rừng, nếu
đã chẳng biết cây. Cũng vậy, chúng ta không thể nào biết Thiên Chúa, Đấng chúng
ta hằng kính mến, nếu chúng ta không yêu thương anh em đồng loại.
Và thật may mắn cho chúng ta vì không cần biết hết mọi thứ cây, thì mới hiểu
được rừng. Cũng vậy, không cần phải nếm hết tất cả nước biển mới biết nước biển
mặn, nhưng chỉ cần nếm một vài giọt mà thôi cũng đã đủ.
Cũng vậy, chúng ta không cần phải yêu thương tất cả mọi người trên thế gian, mới
hiểu được tình yêu là gì? Và hiểu được chân lý Đức Kitô đã mặc khải cho chúng
ta: Thiên Chúa là tình yêu. Đã hẳn Đức Kitô mời gọi chúng ta yêu thương tất cả
mọi người, nhưng tất cả ở đây không có nghĩa về số lượng, bởi vì điều đó không
thể nào thực c hiện được đối với chúng ta, nhưng Chúa chỉ đòi hỏi chúng ta yêu
thương những người chúng ta gặp gỡ trong cuộc sống của mình, không ghét bỏ một
ai, cũng chẳng loại trừ một ai.
Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa. Có lẽ nhiều người trong chúng ta
nghĩ rằng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là điều quá cao vời, quá rắc rối. Chuyện hiểu
biết mầu nhiệm này nằm ở trong lãnh vực chuyên môn của các nhà thần học, của các
giám mục, linh mục và tu sĩ…Còn mình làm sao có thời giờ để mà học hỏi, có trình
độ đâu mà dám múa rìu qua mắt thợ.
Nhưng chúng ta đâu có ngờ rằng: Trong lãnh vực này, có khi nhà thần học, cũng
như giám mục, linh mục hay tu sĩ vẫn còn thua xa một bà già nhà quê, nếu như bà
ấy biết yêu thương hết thảy mọi người.
Bởi vì, chuyện yêu thương không nhất thiết đòi hỏi một trí rộng tài cao, mà chỉ
đòi hỏi một sự nhiệt tâm và chân thành mà thôi.
3. Thiên Chúa Ba Ngôi: tình yêu tuyệt hảo
“Biết làm sao định nghĩa được tình yêu?”. Có lẽ đây không chỉ là câu hát đầy thi
vị trong lãnh vực tình yêu, mà còn là khắc khoải của từng người trong chúng ta.
Thật thế, ai trong chúng ta cũng yêu và muốn được yêu. Tuy nhiên, không gì khiến
chúng ta phải lúng túng cho bằng định nghĩa thế nào là tình yêu. Tình yêu quả
thật là một mầu nhiệm. Tại sao chỉ có con người mới biết yêu? Có lẽ chúng ta chỉ
có thể trả lời câu hỏi này bằng chính mầu nhiệm của Thiên Chúa mà thôi.
Vào cuối đời mình, khi suy niệm về cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Chúa
Giêsu, thánh Gioan Tông Đồ đã phát biểu như sau: “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Đây
quả là công thức độc nhất vô nhị của Kitô giáo; trước và sau Kitô giáo, có lẽ
không một tôn giáo hay một triết thuyết nào đã gọi Thiên Chúa là Tình Yêu.
“Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài cho thế gian”. Gọi
Thiên Chúa là Tình Yêu, bởi vì Thiên Chúa vừa tỏ mình cho chúng ta một cách gần
gũi, thân thiết, lại vừa là một mầu nhiệm mà chúng ta không bao giờ hiểu thấu
được. Vì yêu thương chúng ta, Thiên Chúa đã tỏ mình qua người Con Một của Ngài,
Người Con ấy đã sống kiếp sống của con người và đã chết một cách đau thương nhục
nhã để nói với chúng ta rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Tình yêu nào cũng
muốn được bộc lộ, người yêu nào cũng muốn tỏ tình. Bằng cuộc sống và cái chết
của Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã thực sự tỏ tình với con người: Ngài đã tỏ tình và
yêu thương cho đến cùng. Chính vì thế, Ngài đã sai phái Thánh Thần đến để khai
sinh Giáo Hội. Thánh Thần chính là Tình yêu nối kết Chúa Cha và Chúa Con. Thiên
Chúa thông ban tình yêu của Ngài cho Giáo Hội, để Giáo Hội hiện diện như một dấu
chứng tình yêu của Ngài đối với nhân loại. Giáo Hội là tiếng tỏ tình của Thiên
Chúa đối với con người.
Mừng kính Chúa Ba Ngôi hôm nay, Giáo Hội muốn nhắc nhớ chúng ta chân lý ấy. Tỏ
mình cho chúng ta, Thiên Chúa muốn nói với chúng ta rằng Ngài là Ba Ngôi Vị,
Ngài là Tình Yêu. Đó là mầu nhiệm cơ bản nhất, từ đó Giáo Hội được xuất phát và
xây dựng; Giáo Hội vừa là hình ảnh vừa là thể hiện Chúa Ba Ngôi. Nhưng mầu nhiệm
Ba Ngôi không chỉ là nền tảng của Giáo Hội, mà còn là ánh sáng chiếu dọi vào bí
ẩn của con người. Thật thế, chỉ trong Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta mới hiểu rõ
được ơn gọi và định mệnh của con người. Nếu Thiên Chúa là tình yêu và nếu con
người được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, thì một cách tất yếu, con
người chỉ thực sự là người khi biết yêu thương. Phẩm giá của con người được xây
dựng trên chính tình yêu. Ai chối bỏ tình yêu, ai gieo rắc hận thù, người đó
cũng chối bỏ con người và chối bỏ chính Thiên Chúa; trái lại ai sống trong tình
yêu, người đó cũng sống trong Thiên Chúa.
Lễ Chúa Ba Ngôi không chỉ là một lời ca tụng tình yêu Thiên Chúa, mà còn là một
tuyên xưng về phẩm giá con người. Thiên Chúa phú bẩm cho con người khả năng yêu
thương; Ngài tỏ mình cho con người để con người cũng nhận ra được phẩm giá cao
cả của mình. Mỗi ngày, từ lúc khởi đầu một ngày mới cho đến lúc trở lại giường
ngủ, chúng ta không ngừng tuyên xưng mầu nhiệm của tình yêu Thiên Chúa và phẩm
giá cao cả của con người. Mầu nhiệm ấy gắn liền với Thập Giá Chúa Giêsu mà chúng
ta vẽ trên người. Qua cái chết trên Thập Giá, không những Chúa Giêsu tỏ bày cho
chúng ta mầu nhiệm của Thiên Chúa, Ngài còn vạch ra cho chúng ta con đường đi
vào mầu nhiệm ấy, đó là con đường của yêu thương. Chúa Giêsu đã yêu thương và
yêu thương cho đến giọt máu cuối cùng; Ngài đã tỏ cho chúng ta thấy bộ mặt của
Thiên Chúa; Ngài đã dạy cho chúng ta biết thế nào là yêu thương.
4. Thiên Chúa tình yêu – ĐTGM. Ngô quang Kiệt
I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Ga. 3, 16-18
II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
Một bạn trẻ hỏi tôi: “Thưa Cha, tại sao đạo Phật khi xây chùa thì chọn những nơi
rừng núi thâm u, xa hẳn thị thành, còn đạo Công Giáo khi xây nhà thờ lại chọn
những nơi dân cư đông đúc, phồn hoa đô hội?” Tôi trả lời: “Bạn quả là có con mắt
nhận xét. Việc xây cất chùa chiền, nhà thờ như vậy, thực ra, phát xuất từ quan
niệm nền tảng của đạo. Đạo Phật là đạo xuất thế. Đức Phật vì thấy những cảnh khổ
ở đời trong sinh, lão, bệnh, tử nên đã tìm môït con đường mong giải thoát chính
mình và nhân loại khỏi cảnh khổ não ở đời. Vì thế Ngài đã từ giã cung đình, rũ
sạch bụi trần, xa lánh phồn hoa. Trái lại đạo Công Giáo là đạo nhập thế. Thiên
Chúa thấy con người trầm luân khổ ải nên chạnh lòng thương, đã sai Con Một là
Chúa Giêsu xuống trần để cứu độ chúng sinh. Chúa Giêsu xuống trần không chỉ là
nhập thế, mà còn hoá thân một người nghèo sống giữa người nghèo, người tội lỗi
để đưa mọi người về với Chúa, đó là nhập thể. Có thể nói đạo Công Giáo diễn tả
việc Thiên Chúa đi tìm con người.
Thiên Chúa đi tìm con người vì Thiên Chúa yêu thương con người. Không yêu thương
thì chẳng việc gì phải đi tìm. Đi tìm tức là có quan tâm. Xa vắng thì nhớ. Thấy
khổ vì thương. Vì thương, vì yêu nên phải cất bước đi tìm.
Không phải Thiên Chúa chỉ yêu thương khi con người gặp đau khổ. Thực ra Thiên
Chúa đã yêu thương con người từ trước, từ khi chưa có con người. Vì Thiên Chúa
là tình yêu thương.
Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu thì không thể sống đơn độc nên phải có Ba Ngôi.
Vì yêu thương không chỉ là cho đi nhưng còn là nhận lãnh. Muốn cho đi, phải có
đối tượng để nhận lãnh. Muốn nhận lãnh cũng đòi phải có người sẵn sàng cho đi.
Vì Thiên Chúa là tình yêu, nên Thiên Chúa là Ba Ngôi để có thể cho đi và nhận
lãnh.
Thiên Chúa là tình yêu tuyệt hảo nên sự cho đi và nhận lãnh ở nơi Ba Ngôi Thiên
Chúa cũng đạt đến mức tuyệt hảo. Thiên Chúa Cha trao ban cho Chúa Con tất cả
những gì mình có, nên Chúa Con là hình ảnh hoàn hảo của Chúa Cha, đến nỗi Chúa
Giêsu có thể nói: “Ai thấy Thầy là xem thấy Cha Thầy, Thầy và Cha là một”. Vì
yêu, Chúa con dâng lại cho Chúa tất cả những gì mình nhận lãnh. Việc hiến dâng
này ta thấy rõ trong thái độ khiêm tốn, tự hạ, vâng phục vô biên của Chúa Giêsu
đối với Chúa Cha. Chúa Giêsu đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá.
Chúa Giêsu đã quả quyết: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người
dám hy sinh mạng sống vì bạn hữu”. Và Người đã vì Chúa Cha mà hiến mạng sống.
Thiên Chúa là tình yêu tuyệt đối. Tình yêu ấy không chỉ đóng kín nơi bản thân
mình. Cũng không chỉ dừng lại ở một đối tượng hạn hẹp. Nhưng vượt mọi ranh giới,
lan toả đến mọi góc biển chân trời. Ba Ngôi Thiên Chúa là một bầu trời tình yêu
hạnh phúc. Nhưng tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa không chỉ thu gọn trong cộng
đoàn Ba Ngôi, mà lan toả đến khắp vũ trụ, ấp ủ cả thế giới, nâng niu cả sinh
linh vạn vật. Ba Ngôi là một lò lửa tình yêu. Lò lửa tinh luyện tình yêu càng
ngày càng phong phú, là nguồn mạch của mọi tình yêu trên đời.
Mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi như thế không xa vời. Trái lại rất gần gũi, thiết
thân với đời sống chúng ta, là nguồn mạch sự sống của ta, là khuôn mẫu ta phải
noi theo, là cùng đích ta phải đạt tới.
Ta ra đời là do tình yêu của Thiên Chúa. Có thể nói nhân loại là kết tinh của
tình yêu Thiên Chúa. Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã nói: “Ta hãy tạo dựng
con người giống hình ảnh Ta”. Thiên Chúa là tình yêu. Con người giống Thiên Chúa
vì có trái tim biết yêu thương. Cây cỏ không có trái tim biết yêu thương. Cầm
thú không có khả năng yêu thương. Chỉ có con người mới có khả năng yêu thương vì
con người giống Thiên Chúa.
Nhưng tình yêu ở nơi con người chưa hoàn hảo vì còn chen lẫn nhiều ích kỷ, hận
thù, ghen ghét. Vì thế con người còn phải thanh luyện cho tình yêu ngày càng
thêm tinh tuyền, thêm quảng đại, thêm phong phú. Càng yêu thương con người càng
nên giống Thiên Chúa. Càng quảng đại con người càng gần với trái tim Thiên Chúa.
Càng quên mình con người càng tham dự vào sự sống Thiên Chúa.
Được sinh ra trong tình yêu nên con người phải sống bằng tình yêu. Như thế con
người mới sống trọn định mệnh đời mình. Như thế con người mới đạt được cùng đích
đời mình là sống hạnh phúc trong tình yêu muôn đời của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Lạy Ba Ngôi Thiên Chúa, là nguồn mạch tình yêu, là sự sống sung mãn, là thiên
đàng hạnh phúc, con đã được sinh ra trong tình yêu của Chúa. Xin cho con biết
sống tình yêu hy sinh theo gương Chúa Giêsu Kitô, để con được kết hợp với Chúa,
sống chan hoà hạnh phúc trong tình yêu muôn đời của Chúa.
III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU
1) Thiên Chúa là tình yêu. Bạn cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa thế nào?
2) Bạn có là hình ảnh tình yêu của Thiên Chúa chưa?
3) Bạn làm gì để sống mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi?
5. Chịu trách nhiệm về sự hiện diện của Đức Kitô
Đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi đi qua đức tin vào Chúa Giêsu Kitô. Mọi giáo huấn
về Thiên Chúa chất chứa nơi con người của Chúa. Do đó sự liên kết đức tin vào
Chúa Con đã chứa đựng hành vi tin vào Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Bởi thế Phúc
Âm có thể nói: “Mọi người tin vào Ngài không phải chết, nhưng có được sự sống
đời đời”. Việc Giáo Hội chọn một đoạn có chủ ý nhấn mạnh tầm quan trọng của đức
tin vào Chúa Giêsu Kitô trong ngày lễ Chúa Ba Ngôi, chứng tỏ rằng khởi điểm,
tiến trình và đích điểm của tác động tin toàn diện chứa đựng trong việc liên kết
toàn diện với Đức Kitô. Ai đến cùng Đức Kitô là đến cùng Chúa Cha, nhờ ân sủng
của Chúa Thánh Thần. Nhưng đây là một câu hỏi khác mà Phúc Âm mang lại câu trả
lời: Thiên Chúa cứu độ thế gian bằng cách nào? Bằng cách sai Con Người đến. Thế
ngày nay Đức Kitô đến trong thế gian bằng đường lối ưu tiên nào? Qua Giáo Hội.
Do đó Giáo Hội có sứ mạng làm cho Đức Kitô hiện diện với thế gian. Giáo Hội phải
thông truyền một sự hiện diện chứ không phải chỉ giảng dạy những lời nói, một
giáo thuyết, một huấn giới. Thiên Chúa Ba Ngôi đã tự hạ xuống ngang tầm con
người nơi ngôi vị Đức Giêsu Kitô, được tỏ lộ bởi và trong Giáo Hội. Người đặt
lòng tin tưởng nơi Đức Giêsu cho đến mức chia sẻ định mệnh chết và sống lại với
Ngài, được tham dự vào mầu nhiệm linh động của Thiên Chúa. Điều này giải thích
tại sao lời giảng của các tông đồ lúc khai nguyên Giáo Hội không phải là một
sách giáo lý về Ba Ngôi chí thánh nhưng là lời loan báo Đức Giêsu Kitô. Qua dòng
lịch sử của mình, nhất là qua các Công Đồng, Giáo Hội cố gắng diễn tả gẫy gọn
một sự suy tư về mầu nhiệm Tam Vị. Nhưng công trình chính yếu của Chúa Thánh
Thần trong Giáo Hội (và trong mỗi người chúng ta) là làm sao cho Giáo Hội tin và
tiếp tục tin vào Chúa Giêsu Kitô. Hai câu hỏi:
1) Đâu là trung tâm đức tin của chúng ta?
Chúng ta có thể tự đặt câu hỏi ấy đối diện với một số người đương thời đang dấn
thân vào những hy vọng nhân loại dựa trên những ý thức hệ. Phúc Âm có phải là
một ý thức hệ như bao nhiêu cái khác và các Kitô hữu có phải là những người ủng
hộ một phong trào nhằm tạo một nhân loại hạnh phúc hơn về mặt trần thế? Không có
gì xa lạ với đức tin chân thật hơn điều đó. Trung tâm đức tin là con người Đức
Giêsu Kitô. Ước vọng một thế giới tốt đẹp hơn nơi người Kitô hữu được gọi là
lòng khao khát ơn cứu độ, khao khát được giải thoát khỏi sự dữ và sự chết, về
mặt vật chất và tinh thần. Việc này chỉ có thể thực hiện được bằng sự liên kết
hồn xác với Chúa Con, nhờ Ngài mà thế gian được cứu. Đức tin của chúng ta chỉ
hữu hiệu cho việc cứu độ thế gian trong mức chúng ta thông hiệp với Chúa Giêsu,
trung tâm đức tin của chúng ta.
2) Sứ điệp của chúng ta là gì?
Người ta chỉ truyền bá có giá trị những gì người ta sống. Để Chúa Giêsu trở
thành nguyên cực ơn cứu độ, nghĩa là gặp gỡ Thiên Chúa trong tự do, chân lý,
cuộc sống hằng cửu. Giáo Hội cần phải tỏ bày Ngài ra cho mọi người. Giáo Hội là
chính mỗi người chúng ta. Mọi tín hữu đều mang trách nhiệm phần mình làm cho Đức
Kitô hiện diện với người ta, bằng lời cầu nguyện hay bằng hành động, bằng việc
dâng hiến một đau khổ hay bằng ảnh hưởng của hoạt động, bằng sự hy sinh thầm kín
hay bằng việc loan báo lời Chúa. Mỗi tín hữu có sứ mạng làm sao cho Giáo Hội
thông đạt tới thế giới sứ điệp ơn cứu độ nơi Chúa Giêsu Kitô.
6. Mặc khải bất ngờ của Phúc Âm
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Tình yêu của Chúa Cha trong Con,Đức Giêsu Kitô, được biểu lộ.
Trong năm A này, sách bài đọc đã mượn bài Phúc âm trong chương 3 của thánh
Gioan, phần cuối của cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và Nicôđêmô. Dựa vào giai
thoại "con rắn đồng" (Ds 21,4-9), Đức Giêsu đi đến cử hành tế lễ treo trên thập
giá như là đỉnh cao của mặc khải về tình yêu, tiếng nói đầu tiên và cuối cùng
của ý định của Thiên Chúa: "Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con
Một mình: vì thế ai tin vào Ngài sẽ không chết nhưng được sống đời đời. Cụm từ
"Con Một" gợi lên lễ hiến tế của Abraharn (Gen 22,2-12). Còn về việc "Nâng cao
Con Người lên" (Ga 3,14) nơi thánh Gioan, bao gồm vừa là cái chết của Đức Kitô
trên thập giá vừa là sự tôn vinh Người bên hữu Chúa Cha, và theo X.lon Dufour,
"bao gồm rộng hơn nữa, cả hành trình của Ngài ở trần gian" (Đọc Tin Mừng thánh
Gioan Tom I, Ed. du Seuil p.306-307). Thánh giá này là nguồn sống của tín hữu,
không phải do khía cạnh hiến tế và đổ máu, nhưng theo A. Marchadour, là cách
diễn tả cuối cùng của tình yêu Thiên Chúa". Ông viết tiếp: "Không như một vài
người nhìn thánh giá như là nơi diễn tả cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, khi Chúa
Cha từ bỏ Chúa Con để chuộc tội loài người. Ở đây, Con và Cha hiệp thông với
nhau trong cùng một tình yêu đối với thế gian (Tin Mừng Gioan, Centurion, p.69).
Dự án tình yêu nhưng không của Thiên Chúa Cha mà Đức Giêsu mặc khải, mang tính
phổ quát: "cho thế gian", chứ không chỉ dành riêng cho một ít người. X.lon
Dufour nhận xét: "Ba câu này liên kết mật thiết với nhau, hai câu đầu nói lên
động cơ (3,16) và mục đích (3,16-l7) của ơn Chúa hay việc Cha sai Con Một mình.
Trong chương trình này, lần thứ nhất, hai lần Thiên Chúa là "chủ từ”. Thiên Chúa
được coi là nguồn gốc của hành động cứu rỗi, vì tình yêu cao cả ngất ngây của
Ngài. Ở trung tâm của tất cả, nhất là trung tâm vai trò của Con Người và con
đường dẫn tới thập giá, người ta tìm thấy Thiên Chúa yêu thương thế gian. Sự
khẳng định đó coi Thiên chúa và tình yêu của Ngài như là thực tại nền tảng và
tuyệt đối. .. Tình yêu đi trước tất cả, như trong lời mở đầu của thánh Gioan ánh
sáng thiên linh đã hiện hữu vì con người trước khi có tối tăm. Thiên Chúa tình
thương chỉ có một mục đích là cứu rỗi và ban sự sống (O.C. p.305-306).
2. Kêu gọi câu trả lời tự do của chúng ta “bây giờ”
Nhưng không, vô điều kiện, phổ quát, tình yêu Chúa Cha tỏ hiện trong Con Một,
đòi hỏi một câu trả lời tự do của con người. Sự hiện diện của Chúa Giêsu, Đấng
mặc khải tình yêu Chúa Cha, đòi hỏi mọi người ‘bây giờ phải chọn lựa, một sự
chọn lựa sẽ quyết định cho số phận của mình’.
Với kẻ kết hiệp trong đức tin, với Thiên Chúa tình yêu được bày tỏ trong Đức
Giêsu Kitô, với kẻ tin "nhân danh Con Một", thì được hiệp thông với "sự sống đời
đời”. Từ hôm nay họ được dẫn vào sự duy nhất vĩnh viễn và trong sự thân mật hoàn
hảo của Chúa Cha và Chúa Con: “Như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, xin cho
chúng nên một với Ta” (Ga 17). Còn với "ai không muốn tin" thì đã bị luận phạt
rồi, vì không tin vào Con Thiên Chúa". X. lon Dufour nhấn mạnh: "sự sống đời đời
và án phạt không dành cho ngày sau hết mà thôi (phán xét chung thẩm): cả hai
được thể hiện trong hiện tại khi gặp gỡ Đức Kitô. Tin vào Ngài tức thì "có sự
sống", trái lại, từ chối không tin là tự định đoạt cho mình phải chết" (O.C.
p.308-309).
BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Sống và yêu theo nhịp Chúa Ba Ngôi” (J.N. Bezencon, trong, "Babor
p.131-132).
Mặc khải về Chúa Ba Ngôi không chỉ là sự bổ sung vào ý niệm chung về Thiên Chúa.
Sẽ không đủ nếu chỉ thêm thắt vào ý niệm về Thiên Chúa của các tôn giáo khác.
Mặc khải về Chúa Con và Chúa Thánh Thần để từ đó khám phá ra Thiên Chúa của Đức
Giêsu Kitô. So với tôn giáo độc thần của Do Thái mà một Chúa Ba Ngôi là sự hoàn
thành, ý niệm Chúa Ba Ngôi của người Kitô hữu là cả một cuộc cách mạng trong sự
hiểu biết về Thiên Chúa. Vì thế trong kinh Tin Kính của Kitô giáo, không có một
đoạn đầu chung chung nói về Thiên Chúa trong những từ mà chúng ta có thể chia sẻ
với anh em Do Thái giáo hay Hồi giáo. Chức làm Cha của Thiên Chúa, quyền năng vô
biên của Ngài, hành động sáng tạo của Ngài, quyền làm Chúa của Ngài trên vũ trụ
phải được đọc dưới ánh sáng của Đức Giêsu và thập giá của Ngài. Đức tin Kitô
giáo, đức tin vào Chúa Ba Ngôi, không chỉ khác bởi nội dung của nó, như thể là
trong danh mục các chân lý phải tin, chỉ cần thêm vào, cho là ở đâu đi nữa, một
chương về Ba Ngôi là đủ. Chính đức tin đã khác biệt rồi, khác trong chính kết
cấu, trong năng động. Đức tin cách nào đó, đảo ngược: khi tôi nói tôi xây dựng
cuộc sống tôi trên Ngài, trước hết tôi muốn nói trong Ngài là nguồn suối, Ngài
tin ở con người và phó thác cho tôi, ràng buộc mình với chúng ta, và tuỳ may
rủi, Ngài chọn xây dựng tất cả dự tính tình yêu của Ngài, và chia sẻ, dựa trên
sự đáp trả tự do và mong manh của chúng ta: Đức tin của chúng ta, tiếng Amen của
chúng ta là câu trả lời như tiếng dội của lòng tin của Thiên Chúa. Nói Ngài là
Cha là mẹ (đứa trẻ nói: Thiên Chúa là người Cha, thương yêu như người mẹ) điều
đó muốn nói chính Ngài luôn luôn đi bước đầu. Huấn giáo (catécalèse) không có
điểm xuất phát nào ngoài phát minh làm chóng mặt rằng một ai đó đã tin tôi đến
nỗi làm cho tôi sống: "Con là con Ta, trong con Ta đặt tất cả tình yêu”. Bởi thế
ngay lập tức, đức tin ấy là tin vào Chúa Ba Ngôi. Dựa vào huấn giáo là đặt mình
ở điểm chính xác nơi mà Lời của Thiên Chúa có thể tìm thấy tiếng dội trong con
người. Đó là đi vào kinh nghiệm làm con của Đức Giêsu. Cuối cùng huấn giáo là
huấn giáo về Chúa Ba Ngôi vì đời sống Kitô giáo là tin vào Chúa Ba Ngôi: ở chỗ
để Thánh Thần chiếm đoạt, đến nỗi nên một với Đức Giêsu mà Chúa Cha hằng sinh
ra. Từ đó huấn giáo các bí tích mà người Kitô giáo học sống sự hiệp thông Ba
Ngôi là rất quan trọng. Đó là dịp để quảng diễn các kinh trong sách nghi lễ, với
điều kiện là đừng bắt đầu cách loại bỏ những gì mà tất cả những ai được giáo
huấn (catéchisés) cho rằng không hiểu. Một nhóm nhỏ làm công tác giáo huấn làm
ta nghĩ đến bức tượng thánh Icône của André Roublev, ba thiên thần được Abraham
đón tiếp, truyền thống công nhận đó là hình ảnh tiên báo về Chúa Ba Ngôi. Tất cả
Giáo Hội, tất cả mọi tế bào của Giáo Hội, là hình ảnh của Chúa Ba Ngôi nếu như
mỗi người đều hướng về kẻ khác trong sự chia sẻ và trong sự hiệp thông. Trong
một êkip làm công tác huấn giáo, trong đó mỗi người đều biết đón nhận những gì
mà người khác nói và làm ở đó, những lúc thinh lặng và cầu nguyện thật là những
giây phút hiệp thông, một cái gì đó sống, đồng thời cũng có giá ăn mặc khải mầu
nhiệm của Thiên Chúa như là cái nhìn nhau giữa các thiên thần của bức tượng
thánh của Roublev. Sự tuần hoàn của tình yêu trong Ba Ngôi Thiên Chúa, được anh
em Hy Lạp gọi là "Périchorèse" (một thứ vũ vòng quanh, cũng có gốc với từ
chorégraphie). Thiên Chúa không bất động. Và vì Ngài luôn luôn là chuyển động và
chia sẻ chính Ngài, Ngài là chuyển động hướng về chúng ta. Huấn giáo là nơi mà
trẻ con, chúng biết chúng không bao giờ ở yên, được mời gọi đi vào chuyển động
điệu múa Ba Ngôi, học sống và yêu với nhịp điệu của Cha, Con và Thánh Thần...".
2. “Giáo Hội nói những gì Giáo Hội làm" (Pour dire le Credo, Cerf).
Nhìn Giáo Hội trong những gì Giáo Hội là, không phải là chuyện dễ dàng đâu. Giáo
Hội loan báo Phúc âm, Tin Mừng của Đức Kitô vì hạnh phúc con người, và Giáo Hội
làm cho con người sống các bí tích mà Đức Kitô đã truyền lại, đặc biệt và ngay
từ đầu, Giáo Hội làm cho con người sống bí tích Thanh Tẩy. Giáo Hội hiện hữu là
thế đó, nghĩa là như một cộng đồng của những ai, nam cũng như nữ, chấp nhận tình
yêu Chúa Cha và liều mình sống đời sống của Ngài. "Hãy đi khắp muôn dân thu tập
các môn đệ, làm phép rửa cho họ" (Mt 28,19). Nhiều khi chúng ta cho lời nói của
Giáo Hội có tầm quan trọng (sự can thiệp của Đức Thánh Cha, các tuyên bố của các
giám mục) hơn là việc làm của Giáo Hội, và chúng ta có cảm tưởng Giáo Hội là một
tổ chức để nói, một bà già rất đáng kính nói hơi nhiều. Phải rồi Giáo Hội nói,
và Giáo hội phải làm thế để nói lại với loài người vẻ đẹp của lời dạy của Đức
Giêsu, và giúp họ thay lòng đổi dạ. Nhưng trong chân lý sâu thẳm của mình, trước
hết Giáo Hội hành động, và khi suy nghĩ đến hành động của mình, Giáo Hội nói và
khám phá ra những gì Giáo Hội đã làm. Như thế Giáo Hội kiểm tra lại sự thật của
hành động mình, và cắt nghĩa giá trị của hành động ấy. Giáo Hội làm phép rửa,
một hành động huyền bí cho phép con người nhận ra mình được Cha yêu thương và
được hợp nhất với Đức Giêsu, nhờ ơn sức mạnh của Thánh Thần của Đức Giêsu…,được
trở nên chứng nhân của tình yêu phổ quát của Cha. Chúng ta luôn phải tái khám
phá ra vẻ đẹp và sự quan trọng của phép Rửa mà chúng ta đã lãnh nhận. Và trong
dây liên kết chặt chẽ với hành động chịu phép rửa mà Giáo Hội đã đề ra kinh Tin
Kính, để cho mọi người sẽ chịu phép rửa, cùng nhau nhận ra kho tàng họ được chia
sẻ không do công lệnh gì của họ. Phải luôn lặp lại lời thánh Phaolô: "Nhờ ơn
thánh mà anh em được cứu chuộc, anh em chẳng có công trạng gì trong đó cả, chỉ
là một ơn huệ của Thiên Chúa" (Ep 2,8). Kinh Tin Kính là bản đồ đi đường chỉ cho
chúng ta thấy vẻ đẹp của thế giới mới trên bờ bến mà bí tích rửa tội đã đưa
chúng ta tới. Việc tuyên xưng đức tin bắt đầu trong ngây ngất (của tâm hồn) và
trong lời kinh tạ ơn.
3. “Hội Thánh của Thiên Chúa Ba Ngôi”. (B.Franck, trong "La Croix", 12/2/1995,
p.27).
Nếu Giáo Hội thật là một hiệp thông (koinonia), nếu từ cơ bản Giáo Hội là "dân
Thiên Chúa”, "thân thể Đức Kitô và đền thờ Chúa Thánh Thần, nếu Thiên Chúa Ba
Ngôi vừa là nguồn gốc vừa là khuôn mẫu của sự sống của Giáo Hội, nếu những người
chịu phép (giáo sĩ, giáo dân, tận hiến) phải được đào tạo theo mẫu những liên hệ
nối kết Ba Ngôi Thiên Chúa, khi ấy Giáo Hội phải cố gắng phản ảnh lên trái đất,
giữa các Kitô hữu, những mối liên hệ bình đẳng hỗ tương và bác ái, mối liên hệ
giữa Cha, Con và Thánh Thần. Giữa Ba Ngôi, không có trên cũng không có dưới,
không có Đấng quyết định và Đấng thi hành quyết định, Ba Ngôi với nhau, hoạt
động với nhau sống với nhau mà vẫn giữ được căn tính của mình và Ngôi vị riêng
biệt, tuy mỗi Đấng có một sứ mệnh đặc trưng có một không hai.
Giáo Hội tự mình muốn và tự nói mình là "bức tượng thánh của Ba Ngôi". Giáo Hội
phải luôn cố gắng hướng tới để trở nên cái mà mình phải là, chứ không phải luôn
làm biến dạng khuôn mặt Ba Ngôi mà Giáo Hội tự cho mình là hình ảnh.
7. Thiên Chúa Ba Ngôi
Phải mất ba thế kỷ, các Công đồng của Giáo Hội mới định nghĩa chính xác Ba Ngôi.
Nhưng ngay từ lúc khởi đầu, mọi sự đã được đem đến trong Tin Mừng, đặc biệt là
Tin Mừng của Thánh Gioan. Cuộc đàm thoại với Nicôđêmô mà chúng ta đọc hôm nay là
một đoạn trích ngắn, thật sự đã làm cho chúng ta khám phá một điều gì đó chủ
yếu: “tranh luận" hẳn là không đi tới đâu, phải đi theo Đức Giêsu và dấn thân
với Người. ông Nicôđêmô đại diện cho các môi trường trí thức Do Thái ông là bậc
thầy trong dân Israel (Ga 3,10)... Tuy nhiên ông không hiểu! trước tiên Ba Ngôi
không phải là một vấn đề hóc búa của trí tuệ mà một thực tại đơn giản: Thiên
Chúa là tình yêu! Và tình yêu này mang một khuôn mặt: Đức Giêsu trên thập giá.
Gioan là tông đồ duy nhất đã dám đối mặt với cảnh tượng ấy của tình yêu điên rồ
của Thiên Chúa, khi tham dự vào bi kịch trên đồi Golgotha, cả cuộc đời Ngài,
thánh Gioan đã suy niệm trước Đức Giêsu “được gương cao” khỏi mặt đất trước mắt
Ngài. Thánh Gioan đã nói với chúng ta sự suy niệm ấy. Đồng thời nó cũng là chân
lý sâu xa nhất về căn tính của Đức Giêsu.
“Thiên Chúa yêu đến nỗi..."
Trước khi đi xa hơn trong câu này, tôi để cho những chữ ấy thấm vào người tôi.
Vậy ra đây là vấn đề tình yêu. Và một tình yêu sẽ làm những chuyện điên rồ người
ta đã đoán ra điều đó trong trạng từ "đến nỗi"...
Israel biết rằng Thiên Chúa yêu thương. Toàn bộ Cựu ước là một chung cư về điều
đó. Bài đọc đầu tiên cho chúng ta nghe lại mặc khải với Môsê trong sa mạc
Sinai:"Ta là Đức Chúa Giavê, Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu
nhân nghĩa và thành tín" (Xh 34,4-9). Vâng, toàn bộ Kinh Thánh đều biết tình yêu
của Thiên Chúa nhưng không một ai có thể đoán được tình yêu ấy đi tới mức nào?
"Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi..."
Từ thế gian mà trong tiếng Hy Lạp là “kosmos", trong Tin Mừng Thánh Gioan thường
có nghĩa xấu, ở đây cần biết rằng thế gian, toàn vũ trụ được Thiên Chúa yêu
thương. Thiên Chúa yêu thương thế gian mà Người đã làm ra. Người ta thương yêu
cái gì mình đã làm ra. Nhưng cần biết rằng Thiên Chúa yêu thương mọi người.
Thiên Chúa đã yêu thương một ‘anh nọ’ và một ‘chị kia’. Và tôi đặt những khuôn
mặt cụ thể được yêu thương hoặc không... trên những từ ấy. Thiên Chúa đã yêu
thương anh X. đến nỗi... Thiên Chúa yêu thương chị Y đến nỗi.
'Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban..."
Hai động từ này: ‘yêu’ ‘ban’ ở thì quá khứ bất định trong ngôn ngữ Hy lạp và
dịch thì quá khứ trong tiếng Pháp (trong tiếng Việt là “đã yêu” và “đã ban”).
Thiên Chúa đã yêu và đã ban. Đây là một hành động chính xác, có ngày giờ nơi
chốn. Quả thật! Đức Giêsu Nagiaret con của Bà Maria, con người thật đã can thiệp
vào lịch sử cách nay hai mươi thế kỷ trong một xã hội của Đế quốc La mã đồng
thời đó cũng là một biến cố của hoàn vũ đã biến đổi triệt để lịch sử của nhân
loại. Kinh Tin Kính của chúng ta không phải là một chuỗi các ý tưởng, nhưng là
một chuỗi "sự kiện": Thiên Chúa đã sáng thế, Đức Giêsu đã được trinh thai bởi
Chúa Thánh Thần; Người đã đau khổ, đã chết đã sống lại...
Phụng vụ của chúng ta không phải là những ngày lễ các ý tưởng: Chúng ta không
mừng lễ công lý, tình huynh đệ và cả đức tin. Cách nói: "lễ đức tin tạo ra sự
lẫn lộn. Tin Mừng không phải là sách bàn về học thuyết, là một "tường thuật kể
lại các biến cố... mà tác giả là Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa là "chủ thể" của
hành động: Người yêu... Người ban...
“ Người đã ban Con Một..”
Nếu đọc lướt qua nhanh câu này, người ta có thể chỉ nghĩ đến sự Nhập Thể: Thiên
Chúa đã ban cho chúng ta Con của Người! Nhưng có một tính từ nhỏ: Con "Một" tính
từ ấy xem ra có thể tầm thường với bất cứ người nào không biết Kinh Thánh. Vả
lại, đối với thính giả Do Thái, hai từ ấy (Con, Con Một) nhắc đến một đoạn văn
của Cựu Ước trong trí nhớ của mọi người: vị đại tổ phụ sáng lập đức tin, Abraham
đã chấp nhận hiến tế con trai, con duy nhất của ông (St 22,2-22,16). Đối với
Gioan điều này ám chỉ đến sự “tận hiến” trên đồi Golgotha, chứng tá cao cả nhất
của tình yêu. Trong một câu trước, Gioan đã nói với chúng ta rằng: “Con Người
phải được giương lên như con rắn đồng trong sa mạc” (Ga 3,14). Thánh Phaolô cũng
đã viết: ‘Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì
hết thảy chúng ta” ( Rm 8,32). Tình yêu ấy là vô cùng tận! sự điên rồ của tình
yêu.
“Để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”.
Thiên Chúa đã khởi xướng trước, Người đã “yêu thương đầu tiên”. Mọi sáng kiến
đến từ phía Người. Nhưng như chúng ta biết rõ, để có tình yêu, nếu chỉ có lời
tuyên bố, bày tỏ, trước những bước, dấu chỉ từ một trong hai phía chưa đủ … mà
phải có sự tương ứng, đón nhận, đáp trả, … đức tin là lời đáp lại của con người
đối với lời tỏ bày tình yêu của Thiên Chúa: người ta trao đức tin cho người
khác, người ta làm cho người ấy tin tưởng, tín thác cho nhau, người ta được
“đính hôn”!
Cái được mất của đức tin ấy vô cùng quan trọng: vấn đề là chết hay sống: “ai tin
thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời”. Đó là một song luận khắc nghiệt:
hoặc là …hoặc là.. đó là một chọn lựa quyết định: trong trường hợp này người ta
không sống, trong trường hợp kia người ta được sống… không có con đường trung
bình mà là sự phân đôi triệt để khốc liệt. Hoặc người ta chấp nhận “sự ban cho
của Thiên Chúa” và đi đến sự sống muôn đời là đặc tính của Thiên Chúa hoặc người
ta ở lại với nhân tính của mình và dĩ nhiên là phải chết. Không thể có thái độ
nghiêng ngả quanh co. Phải nói “có” hoặc “không” trước sự ban cho của Thiên
Chúa. Và theo nhà văn Bernanos, Xatan muốn làm chúng ta trở thành “Ông Ouinn”…
là ông vừa nói “có” (oui) và không “ (nn.. non) ông nước đôi đó nói ‘có” khi bắt
đầu nói “không”.
“Quả vậy Thiên Chúa sai con của Người đến thế gian không phải để lên án thế
gian, nhưng để thế gian nhờ con của Người mà được cứu độ”.
Tư tưởng này của Đức Giêsu rất cách mạng. Trong đạo Do Thái cùng thời với Đức
Giêsu, người ta thường loan báo rằng Thiên Chúa sẽ đến tiêu diệt thế giới tội
lỗi. Các thủ bản ở Qumran chứa đầy quan niệm ấy của phái Manikêu: con cái của
ánh sáng sẽ tiêu diệt con cái của bóng tối trong một cuộc chiến đấu một mất một
còn, không khoan nhượng. Gioan Tẩy Giả gần với tâm thức đó, cũng chờ đợi một
Đấng Mêsia trả thù và xét xử (Mt 3,10-12).
Nhưng quan điểm của Kitô giáo về thế gian thì hoàn toàn quân bình hơn. Không
phải là một quan điểm lạc quan, bịt mắt trước sự xấu ác và không nghe thấy khát
vọng bao la về một “thế giới tốt đẹp hơn”… cũng không phải là quan điểm bi quan
luôn luôn lặp lại rằng thế giới thì xấu xa… nhưng là một quan điểm “cứu độ” thừa
nhận sự xấu ác của thế gian nhưng không phải lên án nó, nhưng để cứu nó! Đức
Giêsu cứu thế thật tuyệt vời!
Còn chúng ta thì sao? có phải chúng ta là những môn đệ của Đức Giêsu ấy không?
chúng ta có yêu thương thế gian như Thiên Chúa không? nghĩa là bằng sự đấu tranh
chống lại điều ác và tội lỗi của thế gian để cứu độ nó. Tình yêu thương của
chúng ta có tính “cứu chuộc” không? nghĩa là trước hết phải thực hiện và sáng
suốt trên những khuyết điểm và tội lỗi của anh em chúng ta (cả chúng ta nữa) bị
lệch lạc méo mó nhưng chúng ta cũng phải có đủ lòng nhân hậu để cứu giúp họ ra
khỏi tình trạng ấy và ban cho họ cơ hội để đổi mới…
Tôi còn phải cầu nguyện nhiều về hai từ: ‘không nên đoán xét’ mà hãy ‘cứu’.
“Ai tin vào Con của Người thì không bị lên án…”
Đối với Đức Giêsu, đức tin thoát khỏi sự phán xét. Như thể sự phán xét đã “hiện
đại hoá” vào ngày hôm nay, và đặt vào đôi tay của con người: chính con người tự
phán xét mình. Và Đức Giêsu nói rằng đức tin là sự phán xét ấy: “ai tin là người
được cứu, còn ai không muốn tin đã bị lên án rồi…”
“Nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi”.
Chúng ta thấy những lời này rất nghiêm khắc, bởi vì chúng ta nghĩ đến bao nhiêu
người không tin, trong vòng bà con hoặc trong chính gia đình chúng ta, và trong
thế giới bao la đó những nền văn minh lớn hoàn toàn không có được khả năng biết
Đức Giêsu. Tuy nhiên chúng ta không thể loại trừ ra khỏi Tin Mừng các công thức
căn bản ở đó con người bị thúc bách phải chọn lựa “theo” hoặc “chống”…”có” hoặc
“không”…tuy nhiên phải có sự phân biệt chủ yếu:
1. Khi gởi đến các Kitô hữu đã thật sự tuyên xưng đức tin, thì lời cảnh báo
nghiêm khắc ấy tức là không được chối bỏ đức tin mà mình đã tuyên xưng là một
lời mời gọi không ngừng lặp lại sự tuyên xưng ấy bằng cách mỗi ngày canh tân sự
chọn lựa sống theo Đức Giêsu Kitô của mình: nghĩa là "phó dâng đời sống mình bởi
tình yêu như Người!".
2. Về phần mọi người khác, chưa bao giờ có cơ hội chọn lựa Đức Giêsu một cách
thật sự có ý thức, cá nhân là trưởng thành... thì điều mà chúng ta biết về tình
yêu Thiên Chúa (Đấng đã sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế
gian mà để cứu độ nó), cho phép chúng ta hy vọng rằng nhiều người trong số những
người thực tế 'không theo Đức Giêsu cũng đã theo Người dù họ không biết điều đó
(và quả là thiệt thòi cho họ) bằng cách sống làm người của họ "theo Đức Giêsu
Kitô" nghĩa là "phó dâng đời sống mình bởi tình yêu như Người!"
"Vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa"
Và một lần nữa chúng ta biết chọn lựa ấy khẩn thiết như thế nào... ngay từ bây
giờ. Nhưng trong một đoạn văn song song khác, Đức Giêsu sẽ nói rằng một "kỳ hạn
của ân sủng" sẽ được ban cho con người, bởi vì chỉ đến ngày sau hết mà "lời của
Đức Giêsu sẽ xét xử những kẻ từ chối Người (Ga 12,47-50). Điều đó không loại bỏ
sự khẩn thiết của ngày hôm nay... nhưng tất cả đời sống của chúng ta mỗi ngày là
sự phán xét của chúng ta...
Để kết thúc sự suy niệm này, chúng ta biết rõ hơn tại sao trang Tin Mừng này
được chọn cho ngày lễ Chúa Ba Ngôi. Trong Tin Mừng, Thiên Chúa Ba Ngôi không
phải là một vấn đề mà người ta đề cập như một sự trình bày lý thuyết và trừu
tượng... đó là một thực tại của tình yêu người ta bước vào thực tại ấy để sống
tình yêu ngay từ HÔM NAY bởi đức tin trong Đức Giêsu.
8. Thiên Chúa yêu thế gian
Suy Niệm
Có một điều thường khiến các bạn trẻ băn khoăn, đó là làm sao nhận ra một tình
yêu chân thực, làm sao không bị choá mắt bởi những ảo ảnh, không bị lừa dối bởi
những ngọt ngào, để rồi vỡ mộng.
Bài Tin Mừng hôm nay gợi cho ta một số tiêu chuẩn, khi mời ta nhìn vào tình yêu
của Thiên Chúa.
Tình yêu chân thực là tình yêu hiến trao: "Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã
trao ban Con Một của Người..."
Không phải chỉ là trao một quà tặng, hay một cái gì ở ngoài mình, nhưng là trao
đi một điều thiết thân và quý báu.
Điều quý báu nhất của Thiên Chúa Cha là người Con Một của Ngài, Đức Giêsu Kitô.
Khi trao cho chúng ta Đấng bị treo trên thập giá, Thiên Chúa đã trao cho ta
chính bản thân Ngài.
Ngài chấp nhận Con Ngài phải chết để nhân loại được sống.
Tình yêu chân thực chẳng hề biết giữ lại cho mình.
Tình yêu chân thực là tình yêu chia sẻ, tình yêu mong hạnh phúc cho người mình
yêu: "... để bất cứ ai tin vào Người Con ấy thì không phải chết, nhưng được sống
muôn đời."
Sự sống muôn đời đã bắt đầu từ đời này.
Được sống là được đưa vào thế giới thần linh, được chia sẻ hạnh phúc của Ba Ngôi
Thiên Chúa.
Thiên Chúa không muốn cho ai phải trầm luân. Nếu có ai hư mất hay bị luận phạt
thì không phải là vì Thiên Chúa độc ác, nhưng chỉ vì Ngài tôn trọng tự do con
người.
Con người có thể tin hay từ chối, mở ra hay khép lại trước sự sống được trao
ban.
Thánh Gioan đã dám định nghĩa Thiên Chúa là Tình Yêu.
Một Tình Yêu chia sẻ chan hoà giữa Ba Ngôi: Cha trao tất cả cho Con, Con dâng
tất cả cho Cha. Thánh Thần là sự thông hiệp giữa Cha và Con.
Một Tình Yêu tràn ngập cả vũ trụ: Thiên Chúa là Tình Yêu sáng tạo khi Ngài dựng
nên con người theo hình ảnh Ngài; Ngài là Tình Yêu cứu độ khi Ngài muốn thứ tha
cho ta qua Đức Giêsu; Ngài là Tình Yêu thánh hoá khi Ngài muốn ban cho ta sức
sống mới trong Thánh Thần.
Chúng ta sẽ mãi mãi xa lạ với Thiên Chúa nếu chúng ta xa lạ với tình yêu.
"Ai không yêu thì không biết Thiên Chúa" (1Ga 4,8). Ai không ở lại trong tình
yêu thì cũng không ở lại trong Thiên Chúa (x. 1Ga 4,16).
Ước gì đời ta được tưới gội bởi Tình yêu, để mọi việc chúng ta làm đều bắt nguồn
từ Tình yêu và quy hướng về Tình yêu.
Ước gì chúng ta làm chứng cho Thiên Chúa Tình yêu bằng một đời sống hiến trao và
chia sẻ.
Gợi Ý Chia Sẻ
Tình yêu là hai từ được sử dụng khắp nơi. Điều mà người ta thường gọi là tình
yêu, thực ra chỉ là sự chiếm đoạt của bản năng ích kỷ. Theo bạn, thế nào là tình
yêu thực sự đáng tin? Làm sao nhận ra tình yêu đó?
Có khi nào bạn cầu nguyện với từng Ngôi Cha, Con và Thánh Thần không? Bạn biết
gì về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần?
Cầu Nguyện
Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận, xin dạy con biết phục vụ âm
thầm.
Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt, xin dạy con biết yêu thương tự
hiến.
Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ, xin dạy con biết cộng tác và đồng trách
nhiệm.
Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị, xin dạy con biết coi mọi người như anh
em.
Lạy Chúa Ba Ngôi,
Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng.
Xin cho các Kitô hữu chúng con trở thành tình yêu cho trái tim khô cằn của thế
giới.
Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, biết
quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh.
Lạy Ba Ngôi chí thánh,
Xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa ở sâu thẳm lòng chúng con và
trong lòng từng con người bé nhỏ.
9. Trí khôn và ý muốn
Cách đây hàng ngàn năm, có một nhà hiền triết tài giỏi tên là Simonide. Ngày
kia, nhà vua cho vời ông ta đến và hỏi:
- Thượng đế là gì?
Ông ta xin nhà vua cho mình một ngày để suy nghĩ. Sáng hôm sau, khi nhà vua gọi
tới, thì ông ta lại xin thêm hai ngày nữa để suy nghĩ.
Và khi hai ngày đã trôi qua, ông ta lại xin thêm bốn ngày nữa. Rồi sau đó, ông
ta lại xin thêm tám ngày nữa. Cứ mỗi lần nhà vua truyền cho ông ta đến, thì ông
ta lại xin hoãn với số ngày gấp đôi. Sau cùng, nhà vua bực bội, cho triệu ông ta
đến và giận dữ hỏi:
- Cho tới bao giờ, nhà ngươi mới trả lời câu hỏi của ta? Thượng đế là gì?
Bấy giờ ông ta mới ôn tồn trả lời:
- Xin nhà vua đừng hối thúc tôi. Vấn đề thật khó khăn và tôi nghĩ rằng sẽ chẳng
bao giờ tìm thấy được câu trả lời. Bởi vì càng suy nghĩ, tôi lại càng cảm thấy
bối rối. Vấn đề dường như đã vượt ra ngoài khả năng của tôi.
Kể lại câu chuyện này, tôi cũng muốn nói lên sự bất lực của chúng ta khi phải
trình bày về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, mà chúng ta mừng kính hôm nay. Mặc dù chúng
ta đã học hỏi, đã tìm tòi, nhưng không bao giờ được quên rằng: Chúa Ba Ngôi là
một mầu nhiệm. Sở dĩ chúng ta biết được là vì chính Chúa đã tỏ lộ cho chúng ta.
Tất cả những gì chúng ta biết về mầu nhiệm này được gồm tóm như sau: Nơi Thiên
Chúa có ba ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Cả Ba Ngôi cực thánh này đều có chung
một bản tính, nên bằng nhau về mọi phương diện và chỉ làm thành một Thiên Chúa
duy nhất.
Trong giây phút này, tôi chỉ xin chia sẻ một vài ý nghĩ đơn sơ, đó là đứng trước
mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, trí khôn chúng ta lại quá nhỏ bé đề mà hiểu thấu, nhưng
con tim chúng ta lại đủ to lớn để yêu mến.
Thực vậy, trí khôn chúng ta quá nhỏ bé để mà hiểu thấu. Tôi xin đưa ra một thí
dụ: trước mặt chúng ta đây có ba cô, cô Quít, cô Mít, cô Cam. Đó là ba ngôi vị.
Mỗi người có một bản tính khác nhau và làm thành ba con người riêng biệt. Đối
với Chúa Ba Ngôi thì khác. Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, mặc dù là ba
ngôi riêng biệt, những chỉ là một Thiên Chúa duy nhất. Đó là một mầu nhiệm không
thể nào hiểu thấu, bởi vì trí khôn chúng ta quá nhỏ bé.
Hẳn rằng đã nhiều lần chúng ta được nghe mẩu chuyện về thánh Augustinô. Ngài là
một vị thánh tiến sĩ trong Giáo Hội, đã viết nhiều cuốn sách có giá trị. Ngày
kia, để bắt đầu viết một thiên khảo luận về Chúa Ba Ngôi, ngài đã đi dạo trên bờ
biển để suy nghĩ và cầu nguyện. Bỗng chốc ngài nhìn thấy một em bé đang dùng một
chiếc vỏ sò múc nước và đổ vào một chiếc lỗ nhỏ trên bãi cát. Ngài dừng chân và
hỏi:
- Em làm gì thế?
Em bé bèn trả lời:
- Tôi muốn tát hết nước biển vào trong chiếc lỗ này.
Thánh nhân mỉm cười và nói:
- Làm sao tát được?
Nhưng em bé nghiêm nét mặt và nói:
- Tôi làm việc này còn dễ hơn cái ảo vọng của ngài là muốn trình bày cặn kẽ về
Chúa Ba Ngôi.
Nói đoạn, em bé biến mất. Thánh nhân hiểu rằng đó chính là một thiên thần được
Chúa sai đến để nhắc nhở: trí khôn con người thì quá nhỏ bé để hiểu về mầu nhiệm
này.
Thế nhưng, con tim của chúng ta lại đủ to lớn để yêu mến Ngài. Thực vậy, Chúa
Giêsu đã tỏ lộ không phải để chúng ta hiểu thấu, nhưng để chúng ta yêu mến.
Trước hết, con tim chúng ta đủ to lớn để ca tụng ngài. Mỗi khi hát: Vinh danh
Thiên Chúa trên các tầng trời. Mỗi khi đọc: Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa
Con và Đức Chúa Thánh Thần. Môi khi làm dấu thánh giá, là chúng ta ca tụng và
thờ lạy Chúa Ba Ngôi.
Hơn thế nữa, con tim chúng ta cũng đủ to lớn để cảm tạ Chúa Ba Ngôi. Vậy Ngài đã
làm gì cho chúng ta? Chúa Cha đã tạo dựng nên chúng ta ngay khi chúng ta còn
chưa cất tiếng khóc chào đời. Chúa Con đã dùng cái chết trên Thập giá để cứu
chuộc chúng ta. Và Chúa Thánh Thần luôn thánh hoá chúng ta. Nhờ bí tích Rửa tội,
chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa. Nhờ bí tích Thêm sức, chúng ta trở nên
những người lính chiến của Chúa Thánh Thần. Nhờ bí tích Giải tội, chúng ta được
tẩy sạch mọi tội lỗi. Vì thế, chúng ta phải cảm tạ và yêu mến Chúa Ba Ngôi.
Sau cùng, trái tim chúng ta cũng đủ to lớn để cho Chúa Ba Ngôi ngự trị. Thiên
Chúa không ngự trên chốn trời cao, xa cách ngàn trùng. Trái lại, Ngài sống trong
chúng ta, Ngài ở cùng chúng ta và chúng ta là đền thờ sống động của Ngài. Mỗi
khi tâm hồn chúng ta sạch tội trọng, Chúa Ba Ngôi sẽ ngự trị và trao ban cho
chúng ta sự sống thần linh, sự sống ân sủng, nhờ đó, chúng ta thuộc về gia đình
của Thiên Chúa.
Hãy yêu mến Chúa Ba Ngôi, để rồi chúng ta sẽ được chiêm ngắm Ngài nhãn tiền, mắt
đối mặt trong niềm hạnh phúc đời đời.
10. Dấu Thánh Giá
“Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Chúng ta mở đầu như thế có
nghĩa là chúng ta nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi để bắt đầu bài chia sẻ này. Không
phải riêng tôi mà tất cả mọi Kitô hữu đích thực, khi làm một việc gì đều muốn
làm trong ý nghĩa đó, tức là mỗi khi bắt đầu một công việc gì chúng ta luôn làm
dấu thánh giá. Một nhà văn Kitô giáo ở thế kỷ thứ hai, Ông Tertulianô đã viết:
“Dù khi thức dậy hay đi ngủ, dù khi ăn hay khi làm một việc gì quan trọng, hãy
bắt đầu bằng dấu thánh giá”. Lời khuyên đó cho thấy việc làm dấu thánh giá đã có
ngay từ những ngày đầu của Giáo Hội. Thánh Phaolô cũng thường mở đầu và kết thúc
các thư của ngài một cách tương tự: “Nguyện xin ân sủng của Đức Giêsu Kitô, Chúa
chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng
anh chị em”.
Người Kitô hữu biểu lộ thánh giá ra bên ngoài để tuyên xưng đức tin và tôn vinh
Chúa. Cũng có trường hợp vì tôn trọng thái độ tôn giáo của người khác, chúng ta
chỉ thầm nguyện ở trong lòng màø không làm dấu thánh giá bên ngoài. Nhưng cách
này hay cách kia, chúng ta đều ý thức rằng chúng ta đang làm mọi việc nhân danh
Thiên Chúa để tôn vinh Ngài, như lời Kinh Thánh dạy: “Dù ăn, dù uống, dù làm
việc gì, anh em hãy làm mọi sự để tôn vinh Thiên Chúa”. Đặc biệt hôm nay chúng
ta đề cập đến dấu thánh giá để nói về Chúa Ba Ngôi, để nói lên lòng chúng ta tin
nhận một Thiên Chúa độc nhất có Ba ngôi là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh
Thần.
Trước hết, chúng ta phải nói ngay: Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm quan
trọng vĩ đại nhất của đạo Công giáo: một mầu nhiệm thuộc đời sống thâm sâu của
Thiên Chúa mà con người không có quyền cũng như không có khả năng đạt tới, chỉ
có Con Thiên Chúa mới có thể cho chúng ta biết mà thôi. Bởi vì mầu nhiệm Ba Ngôi
là mầu nhiệm về đời sống thâm sâu của Thiên Chúa, tức đời sống yêu mến của Thiên
Chúa, cho nên chỉ được mặc khải trong thời Tân Ước, là thời yêu mến, và do chính
Con Một Thiên Chúa là hình ảnh, là tình yêu của Đức Chúa Cha.
Đại khái mầu nhiệm ấy được diễn tả như sau: Chúa Cha chiêm ngưỡng chính mình thì
có một hình ảnh, một ý nghĩ, một tâm tình, một lời về mình. Hình ảnh, ý nghĩa,
hay kiến thức hoặc tâm tình ấy là Ngôi Hai hay Ngôi Lời. Thế rồi hai ngôi chiêm
ngưỡng và yêu nhau làm phát xuất ra một mối tình hay một tình yêu. Tình yêu đó
là chính Ngôi Ba: Chúa Thánh Thần.
Khó hiểu quá phải không? Đúng vậy, mầu nhiệm Ba Ngôi rất khó hiểu và mãi mãi vẫn
là khó hiểu. Chúng ta biết được như thế là do chính Chúa Giêsu đã mặc khải, các
tông đồ đã truyền dạy và cả Giáo Hội không ngừng tuyên xưng như vậy. Giáo Hội
toàn cầu đã nhóm họp nhiều công đồng để xác định rõ đức tin của mình về Thiên
Chúa Ba Ngôi. Các Công Đồng quan trọng nhất đã định tín về chân lý này là công
đồng Ni-xê-a năm 325, Công Đồng Constantinopoli năm 381, công đồng Latran IV năm
1215, công đồng Lion II năm 1274, công đồng Floren năm 1439.
Mầu nhiệm Ba Ngôi được coi như một công thức mà Giáo Hội sử dụng trong tất cả
mọi sinh hoạt: từ một dấu thánh giá, một phép lành cho đến một lời thề long
trọng hay một bí tích. Tất cả đều bắt nguồn ở công thức duy nhất Chúa Kitô đã
dùng để ban truyền mệnh lệnh rửa tội cho muôn dân trước khi Ngài lên trời. Trong
đời sống một người tín hữu, ngay từ khi chưa chào đời cho đến khi chết rồi, biết
bao nhiêu lần công thức ấy đã được đọc trên mình chúng ta kèm với dấu thánh giá
hay một nghi thức hoặc cử chỉ nào khác. Nhưng vì là một công thức, cho nên khi
nghe đến hay đọc lên, nhất là sau khi đã lặp đi lặp lại nhiều lần, chúng ta
không còn cảm thấy gì nữa, công thức ấy đã được nhắc tới một cách máy móc, vô ý
thức, đôi khi còn thiếu tôn kính nữa. Vì vậy, chúng ta cần sửa chữa lại điều
không tốt đẹp ấy và quyết tâm từ nay mỗi khi làm dấu thánh giá chúng ta sẽ làm
một cách ý thức và tôn kính.
11. Ba Ngôi
Trong thánh lễ ban phép Bí tích Thêm sức, Đức Tổng Giám mục hỏi một ứng viên
định nghĩa Ba Ngôi Thiên Chúa là gì. Một bé gái 14 tuổi nhỏ nhẹ trả lời: “Thưa
Ba Ngôi Thiên Chúa là Ba Ngôi trong một Thiên Chúa”. Đức Tổng giám mục đã lớn
tuổi, nặng tai, nghe không rõ, bèn hỏi lại: “Cha không hiểu con nói gì?” Vị linh
mục giúp lễ cho ngài là một nhà thần học bèn trả lời: “Thưa Đức cha, Đức cha
không cần phải hiểu. Ba Ngôi là một mầu nhiệm!”
Hôm nay Giáo Hội mừng lễ Chúa Ba Ngôi, chúng ta biết rằng mình không thể hiểu
được, vì đó là một mầu nhiệm. Nhưng cũng biết chắc rằng chúng ta đang sống mầu
nhiệm đó. Ai cũng sống trong dòng đời, nhưng mấy ai đã hiểu được cuộc đời. Ai
cũng cảm được dòng nhạc hay, nhưng lại không thể lấy được cái hay đó ra cho
người khác xem!
Tách ra khỏi dòng sông, con cá sẽ chết. Biệt lập ra khỏi dòng đời, con người sẽ
không tìm thấy hạnh phúc. Lẩy ra một nốt nhạc, nó chỉ là một âm thanh trơ trọi,
không còn là một bài ca. Một vũ khúc được liên kết bởi các cử điệu trong sự liên
tục trôi chảy và nhịp nhàng. Đó chính là những hình ảnh sống động giúp ta hiểu
phần nào về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.
Có một cuốn sách tuyệt hay với tựa đề “Flow” – “Sự Trôi Chảy” của Mihaly
Csikzentmihalyi, giáo sư tâm lý học trường Đại học Chicago. Tác giả đã trình bày
những kết quả của việc nghiên cứu nhằm xác định một cách chính xác câu hỏi:
“Điều gì làm cho con người hạnh phúc?” Sau khi thử nghiệm và phỏng vấn hàng trăm
người trong nhiều năm, giáo sư đã đi đến kết luận rằng con người cảm thấy hạnh
phúc nhất khi chúng ta sống “trong sự trôi chảy”.
Qua lời khẳng định này, tác giả muốn nói đến khả năng tự làm mất đi cái bản ngã
của mình để hoà điệu vào cái khác hay người khác, hy sinh cuộc đời mình cho một
người, một công trình, hay một hoạt động, nhẩy ra khỏi sự hạn hẹp của cái tôi
chủ quan để hoà mình vào dòng suối cảm nghiệm của cuộc đời.
Sống “trong sự trôi chảy” có thể thực hiện dưới vô số những hình thức: leo núi,
đánh cờ, nghe nhạc, hàn huyên trong câu chuyện gẫu, đắm chìm vào trong cuốn tiểu
thuyết trinh thám, hay hăng say làm việc giúp đỡ người nghèo. Bất cứ cái gì thúc
đẩy chúng ta ra khỏi bản thân mình, bất cứ cái gì làm cho chúng ta ngây ngất,
hay tạo nên hoan lạc có thể được coi như “trong sự trôi chảy”. Đồng thời, khi
chúng ta bị ngã bật ngửa ra, qua sự chán chường hay lo âu, khi chúng ta tê cóng
lại thay vì chuyển động trôi chảy, chúng ta trở nên bất mãn, không hạnh phúc.
Đối với người Công giáo thì chẳng có gì ngạc nhiên, vì chúng ta ngầm khẳng định
cái kinh nghiệm nội tâm này và biểu tỏ ra một cách sâu xa mỗi khi làm dấu thánh
giá. Tôi tự hỏi chúng ta có thường ý thức rằng Thiên Chúa mà chúng ta thờ phượng
không phải là một tĩnh vật bất động nhưng là một tập thể của những ngôi vị linh
hoạt và năng động: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần.
Từ nguyên thuỷ, Đức Chúa Cha, nguồn thần tính vô tận và phong phú, biểu tỏ qua
Chúa Con, một cuộc hành trình đi ra khỏi chính mình trong kiến thức và tình yêu.
Và Đức Chúa Con, từ nguyên thuỷ tự cho phép mình được phát biểu và rồi trở về
với Đức Chúa Cha trong hoan lạc. Trong tình yêu hỗ tương, sự chia sẻ thân mật
sâu xa của Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con là Đức Chúa Thánh Thần.
Diễn tả theo ngôn ngữ gợi cảm của thánh Bernard of Clairvaux: Đức Chúa Cha là
người hôn, Đức Chúa Con là người được hôn, và Đức Chúa Thánh Thần chính là nụ
hôn mà Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con chia sẻ với nhau. Thiên Chúa của chúng ta là
một sự nhịp nhàng, một vũ khúc, một dòng sông, một dòng đời. Bản chất của Đức
Chúa Cha là hướng về người khác, là đi ra khỏi chính Ngài. Bản tính của Đức Chúa
Con là quên mình, trong khi bản tính của Đức Chúa Thánh Thần là yêu thương và
được thương yêu.
12. Ba Ngôi
Thiên Chúa không phải là Đấng cực kỳ cao cả đến nỗi Ngài “cứ để” mình biệt lập
trong sự cao cả. Nhà thần bí học Pseudo Dionysius đã nói rằng sự tốt lành có
tính cách lan truyền ra khỏi nó. Sự tốt lành không có khuynh hướng tự nghỉ yên
nơi chính mình, nhưng tuôn tràn ra với những cảm giác vui sướng. Khi một người
nào đó đang hân hoan vui sướng, họ không rút vào phòng để chiêm niệm cho riêng
mình. Trái lại, họ thường có khuynh hướng đi ra ngoài, nói cười nhẩy nhót và vui
mừng hân hoan với người khác, để chia sẻ cái họ đã tìm thấy. Do đó, Thiên Chúa
của chúng ta đầy đủ sự tốt lành, không thể chỉ giữ lại cho riêng Ngài.
Xưa kia thánh Tôma Aquino cũng đã được hỏi rằng Thiên Chúa làm gì suốt ngày, và
vị tiến sĩ Hội Thánh đã trả lời: “Ngài vui thích với chính Ngài”. Dĩ nhiên, câu
trả lời vắn tắt gọn gàng này hoàn toàn phù hợp với những kết quả tìm kiếm được
của Csikzentmihalyi: “Thiên Chúa Ba Ngôi luôn luôn trong sự trôi chảy nhịp
nhàng”.
Vũ khúc tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa quá mãnh liệt và tốt lành đến độ đã tuôn
chảy tràn lan qua hành động sáng tạo vĩ đại của Ngài. Công đồng Vatican I đã
diễn tả rằng Thiên Chúa đang làm chính mình trở nên khác để chia sẻ nguồn vui và
sự hoàn thiện của Ngài. Vũ trụ lạ lùng là một bằng chứng cho thấy cái khuynh
hướng về người khác của Đấng tạo Hoá, một khuynh hướng không thể nghỉ yên nơi
Chính Mình. Thế nhưng, ngọn lửa hoan lạc của Ba Ngôi vẫn chưa được diễn tả một
cách đầy đủ chỉ trong sự sáng tạo. Thay vào đó, một hình thức đẹp đẽ với vẻ rực
rỡ vinh quang của nó đã được ban cho trong một hành động chưa từng nghe đến của
Sự Nhập Thể, một bước nhảy vọt, qua đó Thiên Chúa trở nên một tạo vật. Trong
Chúa Giêsu, chúng ta thấy trước mắt một chuỗi những biến cố về sự tuôn tràn của
Ba Ngôi Thiên Chúa được trình bày:
Đức Chúa Cha sai Đức Chúa Con đi vào hữu hạn, xác phàm, tội lỗi và sự chết, vào
tất cả những cái đang đe doạ và làm chúng ta khinh khiếp, bằng cách mở trái tim
của Thiên Chúa ra qua một sự vươn tới của tình yêu. Rồi, trong Đức Chúa Thánh
Thần, Đức Chúa Con lại trở về với Đức Chúa Cha, mang theo với Người tất cả thụ
tạo. Vũ khúc đã xảy ra từ nguyên thuỷ, trong niềm hoan lạc đó thế giới đã được
tạo dựng, hình thành trong Đức Kitô, với thịt và máu của Người.
Đây là Thiên Chúa mà chúng ta biết. Đây là Thiên Chúa tạo dựng và duy trì chúng
ta trong hiện hữu. Đây là Thiên Chúa chúng ta cử hành khi làm dấu thánh giá. Do
đấy, chúng ta không ngạc nhiên rằng nguồn vui sâu xa nhất của chúng ta đến từ
việc sống “trong sự trôi chảy nhịp nhàng”, vì trong tình yêu hoan lạc mà chúng
ta trở nên giống với “Vũ Khúc của Ba Ngôi” nhất.
13. Tình yêu
Một người cha hứa cho đứa con gái 12 tuổi một số tiền nếu cô bé xén sạch đám cỏ
trước nhà.
Cô bé vui vẻ mang máy cắt cỏ ra làm việc. Đến chiều, cả đám cỏ đã được cắt xén
gọn gàng – ngoại trừ một mảng cỏ tí tẹo còn sót trong góc sân.
Ông bố nói rằng ông không thể trả số tiền đã thoả thuận, bởi vì đám cỏ chưa được
cắt xong. Cô bé cho biết cô sẵn sàng chịu mất số tiền đó và cô nhất định không
cắt nốt mảng cỏ còn sót kia.
Tò mò muốn biết lý do tại sao, ông bố kiểm tra chỗ cỏ chừa lại. Hoá ra, ở giữa
chòm cỏ ấy, một chú cóc đang ung dung ngồi ngắm cảnh hoàng hôn! Cô bé quá thương
con cóc, đã không đành đưa lưỡi dao của máy cắt vào chòm cỏ ấy.
Thiên Chúa là tình yêu. Người đã dựng nên con người cao trọng hơn các loài thụ
tạo. Nhưng con người lại bất trung phản bội. Vì yêu thương Thiên Chúa đã không
nỡ huỷ diệt, lại sai con Một là Đức Giêsu Kitô xuống thế để cứu chuộc con người.
Người lại gởi Thánh Thần đến để thánh hoá cho nên tạo vật mới, dẫn đưa họ về
hưởng vinh quang Nước Trời. Đó là mầu nhiệm tình yêu mà Ba Ngôi Thiên Chúa đã
thương dành cho con người. Vì thế, lễ Chúa Ba Ngôi cũng là lễ của Tình Yêu.
Chỉ những ai sống yêu thương mới được ở trong Thiên Chúa Ba Ngôi.
Chỉ những ai thực thi đức ái mới sống trọn ơn gọi làm con Thiên Chúa.
Chỉ những ai biết sống trao ban mới tìm được nguồn vui đích thực trong Thiên
Chúa Tình Yêu.
Nếu Thiên Chúa đã hiến trao con Một của Người để người Con ấy phải chết và để
nhân loại được sống, lẽ nào người tín hữu còn sống ích kỷ để giữ lại cho riêng
mình những hạnh phúc nhỏ nhoi, tầm thường.
Nếu Thiên Chúa đã muốn chia sẻ hạnh phúc của Ba ngôi, là không muốn cho con
người phải chết nhưng được sống hạnh phúc muôn đời, lẽ nào chúng ta đành khép
lại con tim để chối từ chia sẻ trao ban.
Được dựng nên theo và giống hình ảnh của Thiên Chúa Tình Yêu, nên ơn gọi đích
thực của con người chính là ơn gọi sống yêu thương.
Được cứu độ bằng giá máu của Đức Kitô, nên lẽ sống của người Kitô hữu chính là
tha thứ trong yêu thương.
Được thánh hoá bằng sức sống của Thánh Thần, nên cứu cánh của người tín hữu là
phải nên thánh nhờ sống yêu thương.
Nhìn mầu nhiệm Ba Ngôi từ góc cạnh của đức mến, tức là nhìn từ lăng kính của
tình yêu. Người tín hữu không biết đến yêu thương thì cũng hoàn toàn xa lạ với
Thiên Chúa. Vì “Ai không yêu thì không biết Thiên Chúa”. Chỉ những ai dám sống
và dám chết cho tình yêu, mới được ở lại trong Thiên Chúa. Chỉ những ai dám tự
hiến và trao ban cho anh em mới là những chứng nhân của một Thiên Chúa Tình Yêu.
14. Dòng sông
Hôm nay toàn thể Hội thánh mừng kính trọng thể mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Đây
là mầu nhiệm quan trọng nhất của Kitô giáo. Không một ngày nào Hội thánh và mỗi
người chúng ta lại không tuyên xưng mầu nhiệm ấy, bởi vì mỗi khi chúng ta làm
dấu thánh giá, mỗi khi đọc kinh sáng danh thì đó là lúc chúng ta tuyên xưng mầu
nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Nhưng có lẽ chẳng mấy khi ta quan tâm để tìm hiểu xem
mầu nhiệm này có ảnh hưởng như thế nào đối với cuộc đời của chúng ta. Bởi vì nói
tới các mầu nhiệm, đặc biệt là mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, chúng ta dễ có cảm
tưởng đó là những chuyện xa vời và chẳng liên hệ gì tới đời sống của mình. Nhưng
không phải thế. Mầu nhiệm nào cũng rất gần gũi và liên hệ mật thiết với đời sống
của con người, bởi mầu nhiệm nào cũng là một luồng ánh sáng soi cho chúng ta
hiểu rõ thân phận mình và dẫn lối để chúng ta đi tới bến bờ hạnh phúc.
Đối với mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, chúng ta không thể tìm được một hình ảnh,
một ngôn từ nào để diễn tả cách chính xác, rõ ràng và đầy đủ được. Tuy nhiên
chúng ta có thể tạm dùng hình ảnh một dòng sông để diễn tả ảnh hưởng của mầu
nhiệm Một Chúa Ba Ngôi trong cuộc đời mình.
Con sông mang dòng nước phù sa đến tưới cho các cánh đồng, cho các vườn cây được
tươi tốt và đơm bông kết trái. Dòng sông cũng mang sự sống đến cho con người và
mọi loài. Chúng ta thử tưởng tượng nếu một ngày nào đó mình không có chút nước
nào để dùng thì cuộc sống sẽ ra sao?
Thiên Chúa Cha chính là cội nguồn của dòng sông, và Người đổ vào dòng sông nguồn
nước phù sa mầu mỡ là tình yêu và ân sủng của Người. Chúa Giêsu chính là dòng
sông chứa đựng nguồn nước tình yêu và ân sủng ấy. Và Chúa Thánh Thần là sức đẩy
để nguồn nước tình yêu chảy đến các tâm hồn.
Như con cá sẽ không sống được nếu nó nhảy ra khỏi dòng sông. Như cây cối sẽ
không thể tươi tốt và đơm bông kết trái nếu nó không hút lấy sự sống từ dòng
sông mang lại. Càng ở xa dòng sông, cánh đồng càng dễ nứt nẻ và khô cháy. Cũng
vậy, con người sẽ không thể sống được nếu tách ra khỏi dòng sông tình yêu và ân
sủng của Thiên Chúa Ba Ngôi. Càng xa rời tình yêu của Thiên Chúa bao nhiêu, con
người càng cằn cỗi bấy nhiêu và rồi sẽ chết khô. Bởi đó, sống mầu nhiệm Một Chúa
Ba Ngôi chính là biết mở lòng mình ra để đón lấy nguồn nước tình yêu và ân sủng
của Người, để ta có thể sống và được sống dồi dào. Đón nhận dòng nước là đón
nhận Chúa Kitô và tin vào Người. Lời Tin Mừng trong thánh lễ hôm nay dạy ta như
thế. “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Mình, để những ai
tin vào Người sẽ không phải chết, nhưng được sống muôn đời”. Mà tin vào Chúa
Kitô chính là thể hiện trong đời mình cuộc sống của Người, nghĩa là suy nghĩ,
nói năng, hành động và cư xử như Người. Điều Chúa Kitô quan tâm nhiều nhất và đã
sống triệt để nhất chính là tình yêu thương. Người yêu Chúa Cha nên thi hành mọi
sự theo ý Cha. Người yêu con người nên chấp nhận chết để cho con người được
sống.
Yêu Chúa và yêu người, đó chính là ta đang sống mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi vậy.
15. Sống hoà nhịp
Ngày kia, có một người nông dân đi lên thành phố. Khi đang đi bộ trên một con
đường đông đúc, thì đột nhiên, anh ta nói với một người bạn cùng đi với mình:
“Tôi có thể nghe được tiếng kêu rúc rích của một con dế”. Người bạn của anh ngạc
nhiên và hỏi: “Làm sao mà anh lại có thể nghe được tiếng dế, giữa tất cả những
tiếng động ồn ào này?”
Người nông dân đáp lại: “Bởi vì hai tai của tôi hoà nhịp được với tiếng dế”.
Thế rồi anh ta lại càng cố tình lắng nghe nhiều hơn, và dõi theo âm thanh đó,
anh đã tìm ra được một con dế đang bò trên bờ cửa sổ. Người bạn của anh không
thể nào làm được điều này. Nhưng người nông dân không hề tỏ ra ngạc nhiên. Thay
vào đó, anh móc vài đồng xu từ trong túi áo ra, và ném chúng xuống lề đường. Khi
nghe được tiếng leng keng của mấy đồng xu, những người qua đường liền ngừng lại
nhìn theo dấu vết của chúng.
Người nông dân nói: “Bạn hiểu ý tôi chứ: Không có ai trong số những người này có
thể nghe được tiếng dế, nhưng tất cả bọn họ đều có thể nghe được âm thanh của
tiền bạc. Người ta nghe được cái gì hoà nhịp với hai tai của họ, và không thể
nghe được tất cả những thứ còn lại”.
Điểm cần ghi chú ở đây khá rõ ràng: Nếu ít bị lo lắng phiền muộn, chúng ta có
thể hoà nhịp với Thiên Chúa. Voltaire đã nói: “Ngay khi mở đôi mắt của mình ra,
thì tự nhiên, người ta thừa nhận được sự hiện hữu của Thiên Chúa”. Và Abraham
Lincoln đã nói: “Tôi có thể nhận thấy con người có thể nhìn xuống mặt đất, và
trở nên một người vô thần ra sao, nhưng tôi không thể tưởng tượng được làm thế
nào mà người ta có thể nhìn lên bầu trời, và nói rằng không hề có Thiên Chúa”.
Khi nhìn vào sự vật nào đó hoặc người khác, người ta sẽ nhận biết ngay rằng
những sự vật này không tự hiện hữu được, mà chính là nhờ Thiên Chúa. Tương tự
như một căn nhà phải có người xây dựng ra nó, một cái áo do người may, một cánh
cửa do thợ mộc. Như vậy, thế giới chứng tỏ rằng phải có Thiên Chúa, Đấng Tạo
hoá.
Khi nhìn vào một công trình nghệ thuật, không thể nào bạn không nghĩ đến người
nghệ sĩ. Nhìn vào thế giới tạo vật, mà không nhận thấy Đấng Tạo hoá, chính là mù
quáng, không thấy được ý nghĩa của toàn thể công việc sáng tạo, và ý nghĩa sự
hiện hữu của bản thân mình. Tuy nhiên, thật đáng buồn là có nhiều người nhìn, mà
vẫn không thấy gì. Họ lắng nghe, mà vẫn không nghe được gì. Đức Giêsu đã nói về
Thiên Chúa, như là một người Cha đầy lòng xót thương và khoan dung. Người nói về
chính mình, với tư cách là Con của Cha, và Người gửi Chúa Thánh Thần đến với
chúng ta, để trợ giúp chúng ta sống tư cách người môn đệ và con cái của Thiên
Chúa.
Chúng ta đang trực diện với một mầu nhiệm vĩ đại. Tuy nhiên, bất cứ người con
nào cũng đều có thể thấu hiểu, bằng cách cầu nguyện và sống mầu nhiệm này. Chúng
ta nghĩ đến Thiên Chúa như là một người Cha (và người Mẹ), một người Cha yêu
thương chúng ta một cách sâu sắc. Chúng ta nghĩ đến Đức Giêsu như là một người
Anh, Đấng hiến tặng cho chúng ta chính cuộc đời của Người. Và chúng ta nghĩ đến
Chúa Thánh Thần như là một người Bạn. Đấng trợ giúp chúng ta sống theo Đức
Giêsu, và liên kết chúng ta với nhau, như là anh chị em trong một cộng đoàn của
lòng tin và tình yêu thương. Với tư cách là những người Kitô hữu, đây là bầu khí
mà trong đó chúng ta sinh sống, di chuyển và hiện hữu.